Hieu va Thuong
Trang Nhà | Làng Mai | Thiền Sư Nhất Hạnh |Tu Học | Tin Tức | Hình Ảnh | Văn Nghệ | Hiểu và Thương | Tài Liệu | Khóa Tu | Bạn Trẻ | Việt Nam 2008

 

 

 

 

Tiếp Xúc & Tiếp Trợ

Hình Ảnh

Thông Tin

Liên Lạc

 

 

 

Thượng Tọa, bốn chú tác viên xã hội (chú Nghiệm, chú Đạm, chú Sanh, chú Lộc), cô Therese và tôi ngồi lên xe Van. Nhà trẻ đầu tiên chúng tôi đến thăm khá gần tu viện Bát Nhã. Những nhà trẻ này thật ra chỉ bao gồm 1 đến 3 phòng (3x4m), một nhà bếp nhỏ, và một phòng vệ sinh. Hầu hết các cơ sở được xây ở nơi hẻo lánh giữa những vườn trà, hoặc bên cạnh căn nhà mà thí chủ đã phát tâm cúng dường đất cho chương trình Hiểu và Thương. Khi chúng tôi đến ngưỡng cửa, các cháu đứng dậy và chắp tay búp sen chào chúng tôi: “Chúng con kính chào Thầy.” “Chúng con kính chào các bác.” Các cháu nhìn chúng tôi với những đôi mắt tròn xoe! Rồi các cháu vâng lời cô giáo lặng lẽ về lại chỗ ngồi của mình. Trong lớp học không có bàn và cũng không có ghế. Ba mươi mấy, bốn mươi mấy cháu đều ngồi dưới đất sát bên nhau dọc theo bốn bức tường. Có những lớp sàn nhà được lót gạch men, nhưng cũng có những nơi quá sâu trong rừng thì sàn nhà chỉ bằng xi măng. Các cháu phần đông giữa 3-6 tuổi. Có cháu nhỏ quá chưa ngồi được nên nằm trước các bạn. Therese và tôi ngồi xuống đất với các cháu. Cô giáo bắt đầu bài hát “Ðây Là Tịnh Ðộ” và các cháu đồng thanh hát: “Ðây là tịnh độ. Tịnh độ là đây. Mỉm cười chánh niệm, an trú hôm nay....” Rồi các cháu lại hát, “Thở vào thở ra. Là hoa tươi mát. Là núi vững vàng. Nước tĩnh lặng chiếu. Không gian thênh thang....” Các cháu 4-6 tuổi hát một cách thật hào hứng, bàn tay chắp lại thành hoa, thành núi. Các cháu bé hơn thì nhép miệng theo hoặc trố mắt nhìn.

Tại mỗi cơ sở, Therese đều hỏi tại sao chương trình Hiểu và Thương cần thiết ở địa phương đó, lớp học được hình thành khi nào, và có bao nhiêu cháu và cô giáo trong mỗi lớp. Câu trả lời của các chú tác viên xã hội vàcác cô giáo ở mỗi nơi đều tương tự như nhau. Chính quyền địa phương ở những nơi đó chỉ có trường cấp I cho các em từ 6 tuổi trở lên, và phụ huynh phải trả tiền học phí và tiền ăn. Rất nhiều cha mẹ không có tiền để gởi con đến trường. Họ là những người dân tộc sống trong vùng cao nguyên, và khi người thành phố đến lập dựng vùng kinh tế mới, họ lại phải dọn sâu hơn nữa vào trong những miền rừng núi. Cũng có những người di cư vào từ miền Bắc, theo công ty tơ tằm để làm việc trong những năm 1980. Khi công ty tơ tằm bị đóng cửa, những người công nhân này đã không có đủ điều kiện để trở về bổn xứ của mình, nên họ phá rừng, trồng trà và cà phê để sinh sống. Trong quá khứ, nhiều phụ huynh đã để con của họ ở nhà chăm sóc nhau trong khi họ lên rẫy làm việc. Nhiều cháu đã bị tai nạn, té xuống giếng hoặc làm cháy nhà trong khi nhóm lửa nấu cơm. Vậy nên các phụ huynh đã cùng nhau đến xin Thượng Tọa giúp cho họ có một nhà trẻ cho con của họ. Thường thì một gia đình nào đó tự nguyện dùng một phòng trong nhà của họ cho chương trình Hiểu và Thương; cô chủ nhà cũng trở thành một trong những cô giáo. Lớp mẫu giáo đó phải dọn đi ít nhất 3-4 chỗ, trước khi các phụ huynh có thể quy đủ tiền để mua đất và cùng nhau xây một cái “nhà trẻ” trong địa phương của họ. Chương trình Hiểu và Thương giúp mua đất (nếu phụ huynh không thể quyên góp đủ tiền), mua vật liệu xây dựng (phụ huynh để công ra cùng nhau xây nhà trẻ), giúp làm giếng, trả tiền cho các cô giáo hằng tháng, và cho các cháu ăn ngày hai buổi cộng một ly sữa đậu nành. Có những phụ huynh đã chia đất của họ cho chương trình.Tôi gặp một cô giáo hiện đang dùng nhà của mình để giữ trẻ, và vợ chồng cô cũng xin cho miếng đất kế bên nhà của họ để xây nhà trẻ (nhưng chương trình chưa có tiền để tiến hành). Nhà của cô chỉ có hai gian, vách đất và sàn cũng bằng đất. Tôi không cầm được sự tò mò nên hỏi cô, “Cô chú rất nghèo. Tại sao cô chú không bán đất mà lại hiến cho chương trình Hiểu và Thương?” “Chúng con không bao giờ bán đất đâu!” cô ta trả lời một cách cương quyết. “Vậy thì tại sao cô chú lại cúng dường đất?” tôi lại hỏi. “Vì Sư Ông và quý Thầy, quý sư cô làm việc từ thiện, nên chúng con cũng muốn đóng góp phần của chúng con vào.” Tôi ngồi lặng yên một hồi lâu. Hai cháu gái của cô cũng đang giúp cô giữ trẻ. Tôi hỏi cháu nhỏ hơn, “Con có cảm thấy khó chịu khi trong nhà luôn có nhiều con nít quá không?” “Không đâu Sư Cô ạ,” em trả lời. “Vậy con có thích không?” “Con thích lắm ạ,” và em mỉm cười thật xinh. “Con giúp với những việc gì?” tôi hỏi thêm. “Khi con đi học về, con phụ mẹ rửa tay chân của các em,” em trả lời. Tôi quay qua hỏi chị của em, “Con cũng giúp mẹ giữ trẻ à?” “Vâng ạ,” em nhỏ nhẹ trả lời. “Con còn đi học không?” “Dạ không ạ. Con nghĩ học từ năm lớp tư.” “Con có muốn đi học không?” “Dạ có ạ,” em trả lời, giọng em lại càng nhỏ hơn. “Em có buồn vì không được đi học không?” Em chỉ nhìn xuống đất và da mặt em nhìn tái xanh. Tôi vuốt mái tóc mây của em và thở. Khi chúng tôi rời căn nhà đó, Therese đã nói với tôi, “Tội nghiệp quá! Cô ta là cô giáo mà tiền lương không đủ để cho con của mình đi học!”(It’s so sad that her salary as a teacher cannot put her own children to school!”

Sau đó chúng tôi đến thăm một nhà trẻ của người dân tộc K-ho. Cô giáo chỉ mới 24 tuổi. Cô ta đã học xong trung học và được học bổng ở một trường đại học trên thành phố, nhưng cô đã chọn ở lại và dạy đồng bào của mình. Cô dạy thanh thiếu niên và người lớn trong vùng một lớp bổ túc ban đêm, và nhờ lớp của cô, nạn mù chữ đã không còn nữa trong vùng này. Ban ngày, cô chăm sóc các cháu nhỏ và dạy các cháu nói, đọc, và viết tiếng Việt. Mỗi năm cô dẫn các cháu vừa lên sáu đến trường để vào lớp 1. Cô đi bộ với các cháu đến trường và ngồi trong lớp với các cháu mười ngày liên tục như thế, để các cháu đỡ sợ và có cơ hội làm quen dần với môi trường mới.

Sau đó cô trở về tiếp tục với lớp trẻ của cô. Chỉ có một mình cô chăm lo và dạy ba mươi mấy cháu, và một cô lớn tuổi hơn giúp nấu thức ăn sáng và trưa cho các cháu. Chúng tôi lại đi sâu hơn vào vùng rừng núi để đến thăm một nhà trẻ khác cũng của người dân tộc. Chính quyền địa phương đã được lệnh xây dựng trường cấp I trong mỗi huyện, nhưng rồi rất nhiều trường bị bỏ hoang vì phụ huynh không có tiền để trả học phí cho con của họ. Thượng Tọa đã mượn một trong những trường này cho chương trình Hiểu và Thương. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy các trường công cộng cấp I, cấp II trong vùng này chỉ gồm có những phòng học khá lớn, nhưng không có nhà vệ sinh và nơi rửa tay (chẳng lẽ cả thầy lẫn trò đều phải đi thiên nhiên ngoài vườn trà, mà những cây trà thì thật sự chỉ cao hơn đầu gối!). Các cháu ở nhà trẻ này cũng là người K-ho, da sậm đen và đặc biệt khá nhỏ con. Hầu hết các cháu mặc quần áo rất cũ, và nhiều cháu không có vớ và không có nón. Sáng hôm đó trời rất lạnh và gió rít lên từng đợt, nhưng các cháu ngồi trên một chiếc chiếu mỏng lót trên sàn xi măng. Trong phòng không có đồ chơi hay đồ trang trí nào cả. Các cháu ngồi thật yên trong im lặng. Tôi ẳm một em gái vào lòng. Cô giáo liền nói với tôi, “Cháu bé này gia đình tội lắm. Bố cháu chết vì tai nạn xe cộ đúng một năm vào mùa cà phê như thế này. Mẹ của cháu chỉ mới 22 tuổi mà phải chăm lo hai đứa con. Nhà nghèo lắm.” Bé gái 17 tháng, nhưng khi tôi dựng em lên, em chỉ đứng được vài giây rồi ngồi bệt xuống. Mặt của em xinh và bình yên như vành trăng tròn, đôi mắt mở to. Mỗi lần chúng tôi đến thăm một nhà trẻ là chúng tôi lại thêm một lần ngạc nhiên bởi ánh mắt và cung cách của các cháu. Các cháu rất yên và lặng lẽ, nhưng không phải là một sự uể oải hay mệt mỏi của cơ thể hay tâm hồn (again and again at each location, Therese and i were deeply struck by the children’s eyes and their demeanor. They were so quiet and still, but it was not a kind of flacidity or lethargy of body and mind.) Mắt của các cháu mở tròn, tĩnh lặng, nhưng thấu suốt (their eyes were wide-open and calm, yet penetrating). Tôi thấy các cháu như những thiền sư trong thiền định, với tư thế ung dung và chấp nhận (i saw them as Zen masters in meditation, with ease and acceptance). Cô giáo của các cháu cũng là người địa phương. Trước đó lớp có hai cô giáo, nhưng một cô đã nghĩ việc, nên cô giáo còn lại phải vừa chăm sóc vừa nấu ăn cho hơn 25 cháu. Cô đã làm như thế 4 tháng nay, mỗi tuần sáu ngày. Ấy vậy nụ cười của cô thật rạng rỡ. Cô di chuyển một cách nhanh nhẹn và đầy niềm vui, nài nỉ chúng tôi uống trà và ăn vài cái bánh (thật tình tôi rất đói bụng, nhưng tôi không nỡ ăn bánh của các cháu).

Chúng tôi đi thăm 4 nhà trẻ sáng hôm đó, về lại tu viện để ăn trưa, rồi lại đi thăm 3 cơ sở khác. Khi chúng tôi đến nhà trẻ cuối cùng của ngày hôm đó, các cháu đã được cha mẹ đến chở về nhà. Chúng tôi ngồi lại uống trà với hai cô giáo và một bà cụ cũng có cháu tham dự trong chương trình. Ngụm trà đặc biệt có vị thơm và chát đọng lại nơi cuống họng. Một cô giáo giải thích cho Therese và tôi rằng hầu hết những vườn trà trong vùng này thuộc về công ty của người Taiwanese. Họ ký hợp đồng dùng đất của mình trong 50 năm. Những người dân làm công cho họ chỉ được uống lá trà phía dưới gốc, gọi là “chè,” còn những đọt trà non chỉ dùng để xuất khẩu, gọi là “trà.” Tôi nói “Vậy chắc con đang được uống trà.” Bà cụ cười ngỏn ngoẻn, và nói “Ðây là dịp hiếm có Thầy và các cô đến thăm, nên tôi ra ngoài vườn hái vài lá trà non.” Răng của bà được nhuộm đen từ lúc 16 tuổi. “Mọi người đều nhuộm răng vào thời đó nên tôi cũng nhuộm theo.” Tôi hỏi bà đã bảy mươi mấy tuổi mà sao răng của bà vẫn còn nguyên vẹn. Bà cụ trả lời rằng “nhuộm răng và nhai trầu giúp không bị sâu răng.” Bà cười tươi, để lộ hai hàm răng đen nhánh. Tôi hỏi các cô giáo có mệt không khi phải chăm sóc các cháu từ sáng đến chiều tối (6:30 sáng đến 5:00 chiều), và chỉ có một ngày nghỉ trong tuần (các cô lại phải dùng ngày đó chăm lo việc nhà). Các cô cười thật hiền, với sự chấp nhận và chịu đựng. “Các cô nuôi dưỡng mình như thế nào?” “Chúng con đến chùa Bát Nhã mỗi tháng ít nhất một lần. Các thầy và sư cô ở đấy dạy chúng con cách chăm sóc chúng con và các cháu,” một cô giáo trả lời. “Pháp môn thực tập giúp cô như thế nào?” “Con học đem niềm vui cho người khác. Con không còn nổi giận như trước nữa. Nếu con không nghe tiếng của các cháu vài hôm, con lại nhớ các cháu,” cô nói.

---Đọc tiếp---

 

 

 
Làng Mai - Plum Village - Village Des Pruniers - 24240 Le Pey Thenac France - Góp Ý : banbientap@langmai.org