Bụt thương như vậy đó
Melvin McLeod
interviews Thích Nhất Hạnh
Shambhala Sun | March 2006

Vị
Thiền Sư lớn Thích Nhất Hạnh nói về vô-ngã, tương tức,
và tình thương rộng mở đến vô cùng.
Là
biên tập viên của nguyệt san Shambhala Sun, một trong những phần
việc thú vị nhất của tôi là được vinh hạnh pháp đàm một cách nghiêm
chỉnh, thậm chí thân mật, với các bậc thầy lớn. Là một người học
Phật trước khi là một phóng viên, những câu hỏi tôi đưa ra thường
có ý nghĩa sâu sắc với tôi với tư cách một con người và một hành
giả. Kết quả của những cuộc tham vấn này là một bản đúc kết những
lời dạy mà tôi đã tiếp nhận, hơn là một bài phỏng vấn theo tiêu
chuẩn thông thường. Đây là một vinh dự và một đặc ân cho tôi,
mong rằng bạn đọc cũng được lợi lạc từ đó.
Tôi
gặp Thiền Sư Thích Nhất Hạnh tại Tu Viện Lộc Uyển gần San Diego,
một nơi hoà lẫn các yếu tố Đông và Tây, hiện đại và tao nhã, chánh
niệm và vui tươi. Tu viện nằm giữa một thung lũng nhỏ, khéo tách
rời khỏi khu vực ngoại ô chỉ cách đó một dặm. Những dãy nhà trệt
và thấp gợi lên cảm giác tạm thời, dã chiến của một trại binh
(đây từng là khu trại của hội khoả thân và trung tâm huấn luyện
cảnh sát,) nhưng ngôi thiền đường thanh lịch mới xây lên thì lại
hết sức đồ sộ uy nghiêm. Bên ngoài, các sư chú trẻ người Mỹ gốc
Việt chơi bóng rổ trong khi các sư cô lớn tuổi, đầu đội nón lá,
đang quét sân, các thiền sinh thì đang chăm chỉ pháp đàm. Thức
ăn sáng được bày ra gồm các món chay Việt Nam bên cạnh Corn Flakes
(cốm bắp ăn với sữa) và bơ đậu phụng. Khi có tiếng chuông đồng
hồ, mọi hoạt động đều dừng lại để mọi người thực tập quay về với
chánh niệm.
Tôi
được hầu chuyện với Thiền Sư Thích Nhất Hạnh độ hơn một giờ, sau
đó Thiền Sư đưa cho tôi các thư pháp (in trong số này) mà thầy
đã viết để làm quà cho tạp chí Shambhala Sun. Mặc dầu Thiền Sư
thường được biết đến nhiều nhất qua các nhận định sâu sắc trong
lĩnh vực chính trị và các công tác xây dựng cộng đồng, tôi đã
khám phá nơi Thầy một vị Thầy bội phần hơn những gì mà người ta
diễn tả về Thầy. Tôi đã gặp một vị thầy thấy biết thật nhiều trên
mọi bình diện, thâm sâu và chứng đạt, chú trọng cả tu tập lẫn
xây dựng tăng thân, thấm nhuần vừa giáo pháp truyền thống vừa
biết rõ hướng đi thế giới ngày nay. Lời nói của Thiền Sư đi thẳng
vào trái tim tôi. Nếu có cơ duyên để nghe Ngài giảng, xin bạn
đừng bỏ lỡ. Chữ nghĩa in trong sách báo không sao sánh được, không
diễn tả hết được con người thật của Ngài.
—Melvin
McLeod
Melvin McLeod: Quanh tu viện này
có nhiều câu cảnh tỉnh, nhắc mọi người chánh niệm, trở về với
thân và hơi thở, và nhận ra nhân tánh của mình. Trong giờ ăn ,
mọi người đều dừng lại khi chuông đồng hồ trong phòng ăn điểm
để thực tập hơi thở chánh niệm. Tại sao việc trở về với hơi thở,
đưa tâm về với thân, và thực tập sự có mặt lại quan trọng như
vậy?
Thích Nhất Hạnh:
Thiền tập nghĩa là quay về với chính mình. Nhờ vậy mà mình biết
chăm sóc những gì đang xảy ra bên trong mình, cũng như những gì
đang xảy ra chung quanh mình. Các bài thiền tập đều nhằm đưa mình
trở về với tự thân, với quê hương đích thực của mình. Nếu không
biết khôi phục sự bình an nơi tự thân, không giúp thế giới khôi
phục sự bình an, mình sẽ không đi xa được trong sự tu tập.
Cái ngã chân thật của mình
Melvin McLeod:
Cái ngã chân thật -- cái ta mà mình quay về, -- và cái mà chúng
ta thường cho đó là mình khác nhau như thế nào?
Thích Nhất Hạnh:
Cái ngã chân thật của mình là vô ngã, nhận thức rằng cái mà mình
gọi là ta, là ngã được làm bằng
những yếu tố không-phải- ta, không phải ngã. Không có sự cách
biệt giữa ta và người, mọi sự vật đều liên đới với nhau. Một khi
nhận thức được điều đó mình sẽ không còn kẹt vào ý niệm mình là
một thực thể riêng biệt.
Melvin McLeod:
Chuyện gì xảy ra khi mình nhận ra rằng tự tánh của ta là vô-ngã,
là không có cái ta riêng biệt ?
Thích Nhất Hạnh:
Nhận thức này đưa tới tuệ giác, đưa tới một cái thấy thật thâm
sâu. Mình biết rằng hạnh phúc, khổ đau của mình tùy thuộc vào
hạnh phúc, khổ đau của kẻ kia. Tuệ giác này giúp mình không làm
những việc đưa tới khổ đau cho mình và cho người. Nếu mình tìm
cách giúp cho cha mình bớt khổ thì mình cũng được bớt khổ. Nếu
mình có thể giúp cho con mình bớt khổ thì mình cũng sẽ bớt khổ.
Nhờ nhận thức được rằng không có một cái ta riêng biệt, mình nhận
ra rằng hạnh phúc và khổ đau không phải là vấn đề của cá nhân.
Mình nhận ra tính tương liên tương đới (tương tức), và mình biết
rằng muốn bảo vệ mình thì mình phải bảo vệ cả nhân loại.
Đó là mục đích của sự tu
tập -- nhận ra được tính vô-ngã và tương tức. Đây không phải là
một ý niệm hay một điều mình chỉ hiểu trên bề mặt ý thức. Mình
phải áp dụng tuệ giác này trong đời sống hằng ngày. Vì vậy mình
cần phải có định để duy trì tuệ giác
vô-ngã để tuệ giác ấy có thể soi sáng cho mình từng giây
từng phút trong đời sống hằng ngày. Bây giờ các nhà khoa học đã
thấy được tính vô-ngã nơi não bộ, nơi thân thể, và nơi mọi sự
vật. Nhưng khám phá ấy không giúp được gì cho họ, bởi vì họ không
áp dụng được tuệ giác ấy vào đời sống hằng ngày của mình. Vì vậy
họ vẫn khổ. Cũng vì lý do đó mà trong đạo Bụt chúng ta nói đến
Định. Nếu mình có tuệ giác về vô-ngã, nếu mình có tuệ giác về
vô-thường, mình phải biến tuệ giác đó thành một cái Định mà mình
thắp sáng suốt ngày. Những gì mình nói, mình nghĩ, mình làm sẽ
được soi sáng bởi tuệ giác đó, và mình sẽ tránh gây ra lầm lỗi,
khổ đau.
Melvin McLeod:
Như vậy thực tập chánh niệm là để duy trì tuệ giác vô-thường và
tương-tức trong tất cả mọi thời.
Thích Nhất Hạnh:
Đúng vậy.
Melvin McLeod:
Con người chúng ta nói rằng tình thương là trên hết. Chúng ta
muốn thương; chúng ta muốn được thương. Chúng ta biết tình thương
là thuốc chữa lành mọi căn bệnh. Nhưng làm sao để tìm thấy tình
thương trong trái tim mình, bởi vì thường khi mình không thể thương?
Thích Nhất Hạnh:
Thương là khả năng chăm sóc, bảo vệ, nuôi dưỡng. Nếu mình không
phát khởi được năng lượng đó cho chính mình -- nếu mình không
chăm sóc được mình, không nuôi dưỡng được mình, không bảo hộ được
mình – thì khó mà chăm sóc cho kẻ khác. Trong giáo lý đạo Bụt,
thương mình chính là nền tảng để thương người. Thương yêu là một
sự thực tập. Thương yêu thật sự là một sự thực tập.
Melvin McLeod:
Tại sao mình lại không thương được mình?
Thích Nhất Hạnh:
Chúng ta có thể có thói quen đi tìm hạnh phúc ở một nơi nào khác
với cái bây giờ và ở đây. Chúng ta có thể thiếu khả năng để nhận
ra rằng hạnh phúc là điều có thể có được ngay bây giờ và ở đây,
rằng chúng ta đã có đủ các điều kiện để hạnh phúc ngay trong giờ
phút này. Tin tưởng rằng hạnh phúc không thể có được ngay trong
giờ phút này, rằng mình phải đi về tương lai để có thêm những
điều kiện hạnh phúc là một tập khí. Tập khí này ngăn không cho
chúng ta an trú được trong giờ phút hiện tại, tiếp xúc được với
những mầu nhiệm của sự sống đang có mặt bây giờ và ở đây. Đó là
lý do tại sao mình không hạnh phúc được.
Trở về với giây phút hiện
tại, chăm sóc lấy tự thân, tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự
sống đang thật sự có mặt – đó đã là thương rồi. Thương là tử tế
với chính mình, có lòng xót thương với chính mình, làm phát khởi
những hình ảnh của niềm vui, và nhìn mọi người bằng đôi mắt bình
đẳng, không kỳ thị. Đó là điều mình phải trau dồi. Vô-ngã có thể
đạt được. Thực tại này có thể được tiếp xúc từ từ. Chân lý có
thể được trau dồi. Khi khám phá một điều gì, ban đầu ta có thể
khám phá được một phần thôi. Nếu tiếp tục, ta có thể có cơ hội
khám phá nhiều hơn. Và cuối cùng ta khám phá ra toàn bộ sự vật.
Khi thương, nếu đó là tình thương chân thực, ta bắt đầu thấy người
kia là một phần của mình và mình là một phần của người kia. Đạt
tới nhận thức đó là đã bắt đầu có tuệ giác vô-ngã đã đạt tới vô
ngã. Nếu mình nghĩ rằng hạnh phúc của mình là khác, hạnh phúc
của người kia là khác, thì mình chưa thực chứng được chút gì về
vô-ngã, và hạnh phúc không thể nào đạt tới được.
Khi mình đi trên con đường
của tuệ giác tiến tới vô-ngã, hạnh phúc mang lại từ tâm thương
yêu sẽ tăng trưởng. Khi hai người thương nhau, những ngăn cách,
phân chia, giới hạn giữa họ bắt đầu tan biến, mình trở thành một
với người mình thương. Không còn ganh tị, giận hờn nữa, tại vì
giận người kia tức là mình tự giận mình rồi . Vì vậy vô-ngã không
phải là một học thuyết, giáo điều, hay một hệ tư tưởng mà là một
chứng đắc có thể mang lại rất nhiều hạnh phúc.
Melvin McLeod:
Và hoà bình.
Thích Nhất Hạnh:
Hẳn vậy. Hoà bình là sự vắng bóng của chia rẽ, kỳ thị.
Xây dựng tăng
thân
Melvin McLeod:
Thầy nổi tiếng với các lời dạy về xây dựng sự hài hòa trong cộng
đồng mà trong đạo Bụt gọi là xây dựng tăng thân. Qua những thực
tập như Mười Bốn Giới Tiếp Hiện, Thầy định nghĩa chánh niệm trong
chiều hướng có tính cách xã hội, thậm chí chính trị. Thầy dạy
về các phương pháp truyền thông và sức mạnh của ái ngữ và lắng
nghe. Tại sao Thầy lại nhấn mạnh khía cạnh cộng đồng, quan hệ
giữa người với người?
Thích Nhất Hạnh:
Mình có những kinh nghiệm trong sự tu tập – an lạc, chuyển hoá,
và trị liệu -- dựa trên nền tảng đó mà mình giúp cho người khác.
Mình không chỉ tu với tư cách cá nhân, vì trên đường tu mình sẽ
sớm nhận ra rằng mình cần phải tu với Chúng - nhiều người cùng
tu- nếu muốn sớm có sự chuyển hoá và trị liệu. Đó là nương tựa
tăng.
Thực tập chung với nhau,
năng lượng của niệm, định, và niềm vui sẽ hùng mạnh hơn. Đó là
điều Bụt thích làm. Ngài đi đâu cũng có nhiều đệ tử đi theo, nhờ
vậy mà các vị xuất gia này học được từ Bụt cách đi, cách ngồi,
và cách tiếp xử. Và Tăng Đoàn bắt đầu hoạt động như một cơ thể,
ai cũng góp phần vào năng lượng chung của bình an, hỷ lạc, an
tĩnh, và tình huynh đệ.
Đồng thời, mọi người trong
Tăng Đoàn đều nói thay cho Bụt, không phải chỉ bằng lời mà qua
cách họ hành động và cư xử với mọi người. Đó là vì sao vua Ba
Tư Nặc nói với Bụt: “Bạch đức Thế Tôn, mỗi khi nhìn thấy Tăng
thân của Ngài con lại có thêm niềm tin nơi Ngài.” Vua muốn nói
rằng Tăng thân có khả năng đại diện cho Bụt. Bụt với Tăng Thân
của Ngài có thể thành tựu được nhiều điều. Tôi không nghĩ rằng
một vị thầy có thể làm được nhiều nếu không có Chúng cùng tu;
cũng như một nhạc sĩ không thể biểu diễn được nếu không có nhạc
cụ. Tăng thân rất quan trọng -- tuệ giác và sự tu tập của vị thầy
có thể được nhìn thấy qua tăng thân. Khi mình chia sẻ giáo pháp
và sự thực tập với tư cách một tăng thân thì hiệu quả sẽ lớn hơn.
Melvin McLeod:
Như vậy để giáo pháp thật sự có sức mạnh, trên thực tế, chúng
ta phải chuyển hoá không chỉ chính mình mà cả xã hội?
Thích Nhất Hạnh:
Đúng. Đó là Đại Thừa (Mahayana), là cùng đi với nhau trên một
cỗ xe lớn. Đó là lý do vì sao đạo Bụt phải luôn luôn nhập thế.
Không phải bằng sự tách mình ra khỏi xã hội mà mình có thể làm
được điều đó. Đó là vì sao cỗ xe lớn - Đại Thừa- đã được hiện
rõ ngay trong cái gọi là Tiểu Thừa (Hinayana.)
Melvin McLeod:
Thầy có nghĩ rằng một trong những lý do khiến Thầy nhấn mạnh đến
xây dựng tăng thân và xã hội như một sự thực tập là cuộc chiến
tranh khốc liệt mà Thầy đã chứng kiến ở Việt Nam? Phải chăng việc
chứng kiến xã hội bị tàn phá bởi chiến tranh, những hy sinh mất
mát, đã làm tăng thêm mối quan tâm của Thầy đối với đời sống cộng
đồng?
Thích Nhất Hạnh:
Tôi nghĩ điều này có phần đúng. Đó là tuệ giác mình có được- cái
thấy sâu sắc khi tiếp xúc với thực trạng. Nhưng điều đó cũng đã
từng được chú trọng trong truyền thống. Người Phật tử nào cũng
biết nói: ‘Con về nương tựa Tăng,” nhưng Tăng được làm bằng những
cá nhân có tu tập. Mình phải tự chăm sóc lấy mình. Nếu không thì
mình không có gì nhiều để đóng góp cho tăng thân, vì mình không
có đủ bình an, vững chãi, và tự do trong lòng. Đó là vì sao muốn
xây dựng tăng thân mình cũng phải đồng thời xây dựng bản thân.
Tăng thân có trong mình và mình có trong tăng thân. Yếu tố này
đi vào yếu tố kia. Đó là lý do tại sao tôi chú trọng đến việc
xây dựng tăng thân. Điều đó không có nghĩa là mình không chú trọng
đến việc tự tu. Mình thấy rõ ràng nhờ chăm sóc tốt hơi thở, thân
tâm, cảm thọ của chính mình mà mình có thể xây dựng một tăng thân
tốt.
|