| |
Mở
cánh cửa cho người Tây Phương
Melvin McLeod:
Thầy đã sống ở Tây phương nhiều năm. Thầy nghĩ nên trình bày đạo
Bụt theo cách nào để đáp ứng được những nhu cầu, mong mỏi của
người học Phật ở Tây phương?
Thích Nhất Hạnh:
Tôi nghĩ đạo Bụt nên mở ra cánh cửa của tâm lý và trị liệu để
đi vào xã hội Tây phương dễ dàng hơn. Đứng về phương diện tôn
giáo, phương Tây đã có nhiều niềm tin nơi một đấng thần linh rồi.
Mình không nên đi vào địa hạt tâm linh của Tây phương theo nguyên
tắc tín ngưỡng, bởi vì Tây phương đã có nhiều rồi.
Vậy thì tâm học là cánh
cửa tốt. Nền văn học A Tì Đàm (Abhidharma) của đạo Bụt tiêu biểu
cho sự hiểu biết rất phong phú về tâm, đã được phát triển qua
nhiều thế hệ Phật tử. Nếu đến với người Tây phương bằng con đường
tâm học, mình có thể thành công hơn trong việc giúp người ta hiểu
được tâm họ, giúp người ta thực tập như thế nào để chữa lành được
thân tâm.
Thân và tâm liên hệ mật
thiết với nhau, và chúng ta có thể nói thiền tập đạo Bụt có khả
năng trị liệu thân và tâm. Mình thấy điều này rất rõ khi học các
kinh căn bản về thiền tập như Kinh Quán Niệm Hơi Thở (Anapannasati
Sutra) và Kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm. Thiền tập giúp ta thư giãn
những căng thẳng -- nơi thân thể, tâm hồn, cảm thọ -- để tiến
tới sự chữa lành thân tâm. Cho dù mình uống nhiều thuốc đi nữa
mà nếu thân, tâm còn quá nhiều căng thẳng thì thuốc cũng sẽ ít
công hiệu. Vì vậy Bụt đã đưa ra những bài tập rất thực tế như:
“Thở vào, tôi ý thức toàn thân; thở ra tôi an tịnh toàn thân.
Thở vào tôi ý thức cảm thọ; thở ra tôi an tịnh cảm thọ. Tôi ôm
lấy thân và cảm thọ của tôi bằng năng lượng chánh niệm.”
Sự thực tập buông thư những
căng thẳng nơi thân tâm là nền tảng của sự trị liệu. Ban đầu sự
thực tập này giúp mình vơi nhẹ. Rồi với nhiều niệm và định hơn,
mình thực tập nhìn sâu vào những đau nhức, căng thẳng đó và tìm
ra những gốc rễ sâu xa, nguyên nhân của bệnh. Mình khám phá ra
sự thật thứ hai của Tứ Thánh Đế. Mình có thể nhận ra nguồn gốc
của sự căng thẳng, trầm cảm, và bệnh hoạn đó. Một khi đã nhìn
ra nguyên nhân của khổ, tức sự thực thứ hai, mình bắt đầu nhìn
thấy sự thực thứ tư của Tứ Thánh Đế, con đường dẫn đến sự chấm
dứt bệnh hoạn, căng thẳng, khổ đau. Thấy được con đường là phần
quan trọng nhất. Nếu mình đi theo con đường đó, chẳng bao lâu
bệnh hoạn biến đi, nhường chỗ cho sự lành mạnh, sự thực thứ ba
của Tứ Thánh Đế. Nguyên tắc của đạo Bụt chính là nguyên tắc của
Y Liệu.
Một cánh cửa khác nên mở
là cánh cửa sinh môi học, vì trong đạo Bụt có sự tôn trọng sâu
sắc đến cầm thú, cỏ cây, và cả đất đá. Trong đạo Bụt Đại Thừa,
chúng ta nói ai cũng có Phật Tánh – không chỉ con người mà cả
cầm thú, cỏ cây, và đất đá. Học Kinh Kim Cang mình sẽ thấy Kinh
Kim Cang là văn kiện cổ nhất về bảo vệ sinh môi. Ý niệm về ngã,
về cái ta, được đánh đổ, vì cái ta được làm bằng những yếu tố
không phải ta, và ý niệm về loài người được được đánh đổ, vì loài
người được làm bằng những yếu tố không phải người, chủ yếu là
cầm thú, cỏ cây, và đất đá v.v... Nghĩa là muốn bảo vệ con người
mình phải bảo vệ những yếu tố không phải người. Điều đó rất rõ
ràng.
Vậy cánh cửa sinh môi học
là cánh cửa rất tuyệt vời để mở. Và rồi cánh cửa hoà bình, vì
đạo Bụt là đạo của hoà bình. Một Phật tử chân chính không thể
từ chối làm việc cho hoà bình. Tôi nghĩ còn cánh cửa nam nữ bình
quyền, sự không kỳ thị giới tính. Bụt đã mở cửa cho phụ nữ gia
nhập Tăng đoàn, đó là một hành động rất cách mạng của Ngài.
Tôi nghĩ những cánh cửa
phương tiện này cần được mở rộng để người Tây phương có thể tiếp
nhận được giáo pháp đích thực của Bụt. Những pháp môn này đều
nằm sẵn trong gốc rễ đạo Bụt, nhưng nhiều thế hệ Phật tử đã đánh
mất các giá trị ấy. Phật tử nên thực tập như thế nào để khôi phục
lại những giá trị ấy cho truyền thống để có thể cống hiến lại
cho người sau.
Đạo Phật và khoa Học
Melvin McLeod:
Ngược lại, Thầy có thấy điều gì trong tư tưởng và kiến thức Tây
phương có thể đóng góp cho Phật giáo?
Thích Nhất Hạnh:
Tôi nghĩ dân chủ và khoa học có thể giúp Phật giáo, nhưng không
phải theo cách mà mọi người thường nghĩ. Mình biết rằng sự thực
tập dân chủ vốn đã có sẵn trong truyền thống đạo Bụt. Nhưng nếu
đem so với dân chủ Tây phương, mình thấy dân chủ đạo Bụt đặt căn
cứ trên thật tế nhiều hơn, vì lá phiếu của một người thầy có nhiều
tuệ giác và kinh nghiệm có nhiều trọng lượng hơn lá phiếu của
một Sa Di ít tuệ giác và kinh nghiệm. Vì vậy, trong đạo Bụt việc
biểu quyết cần phải phối hợp giữa hai nguyên tắc dân chủ và thâm
niên. Đó là điều có thể làm được. Chúng tôi đã làm điều này, với
rất nhiều thành công, trong cộng đồng của chúng tôi, bởi vì những
người trẻ và ít kinh nghiệm hơn thường tin tưởng và kính trọng
những vị lớn. Nhưng mình biết có nhiều cộng đồng Phật giáo không
theo cách đó; vị thầy quyết định tất cả và họ đánh mất chế độ
dân chủ. Bây giờ chúng ta phải khôi phục lại chế độ dân chủ, nhưng
không phải theo cách người ta làm ở Tây phương. Chúng ta phải
phối hợp chế độ dân chủ với tinh thần thâm niên.
Riêng tôi, việc học khoa
học đã giúp tôi hiểu đạo Bụt sâu hơn. Tôi đồng ý với Einstein
rằng nếu có một tôn giáo có thể đồng hành với khoa học thì đó
là đạo Bụt. Bởi vì đạo Bụt có tinh thần không chấp chặt vào giáo
điều. Mình có thể có một cái hiểu về khoa học mà mình cho đó là
sự thật, nhưng nếu mình chấp vào cái thấy đó thì mình cũng thôi
luôn việc khám phá thêm những cái thấy mới một cách vô tư. Mình
nên biết rằng với sự thực tập nhìn sâu mình có thể thấy rõ sự
việc hơn. Vì vậy mình không nên có thái độ giáo điều đối với những
gì mình từng thấy biết; mình phải sẵn sàng buông bỏ cái thấy cái
biết của mình về khoa học để có được tuệ giác cao hơn. Rất là
thú vị.
Trong Kinh dạy cho những
người trẻ của bộ tộc Kalama, kinh Kalama, Bụt nói: “Đừng vội tin
vào một điều gì dù điều đó đã được lập đi lập lại bởi nhiều người.
Đừng vội tin điều gì vì nó được các bậc thầy nổi tiếng thốt ra.
Đừng vội tin vào một điều gì dù điều đó đã được viết trong kinh
điển.” Mình phải quán sát, thử nghiệm và thực hành, nếu như nó
có hiệu quả, nếu như nó giúp mình chuyển hoá khổ đau và mang lại
an lạc, giải thoát thì mình có thể tin tưởng vào nó một cách rất
khoa học.
Tôi nghĩ Phật tử không
cần sợ khoa học. Khoa học có thể giúp đạo Bụt hiểu sâu hơn lời
dạy của Bụt. Chẳng hạn như Kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka Sutra)
nói rằng cái một được làm bằng cái nhiều, và cái nhiều có thể
tìm thấy trong cái một. Điều này có thể chứng minh được bởi khoa
học. Từ một tế bào người ta có thể làm ra một bản giống y hệt
như toàn bộ một cơ thể. Toàn bộ di sản di truyển có thể được tìm
thấy trong một tế bào và từ một tế bào chúng ta có thể làm lại
một bản giống y hệt bản chính của toàn bộ cơ thể. Trong cái một
mình thấy có cái nhiều. Điều này giúp mình hiểu giáo lý của Bụt
một cách sâu sắc hơn.
Vì vậy không có lý do gì
để Phật tử phải sợ khoa học cả, nhất là khi họ có khả năng buông
bỏ cái thấy hiện có của mình để đạt tới một cái thấy sâu hơn,
cao hơn. Và trong đạo Bụt cái thấy cao nhất là cái thấy
vượt thoát khỏi mọi cái thấy, vượt khỏi mọi ý niệm. Mình
tưởng sự vật là thường còn, là không đổi thay thì mình bị kẹt
vào một cái thấy sai lầm gọi là thường kiến. Và mình dùng vô thường
để chỉnh lại cái tưởng là sự vật thường còn.
Nhưng mình không để cho mình bị kẹt vào cái ý niệm vô thường. Khi mình nhận diện được cái chân tánh của sự
vật, mình có tuệ giác, thì chẳng những mình buông bỏ
cái tưởng là mọi vật luôn thường còn mà cũng buông bỏ được luôn
cái ý niệm về vô thường. Cũng như khi mình quẹt que diêm, cái
ngọn lửa biểu hiện từ que diêm sẽ đốt luôn que diêm. Khi mình
quán chiếu thật sâu thì mình đạt đến tuệ giác về
vô thường; cái tuệ giác về vô thường sẽ đốt cháy cái ý niệmvề vô thường.
Đó là tại sao giáo lý không
chấp vào Kiến, rất mầu nhiệm. Vô ngã có thể xem là một Kiến ,
một ý niệm; vô thường cũng là một ý niệm. Nếu mình bị kẹt vào
một ý niệm nào đó như vô ngã, vô thường, niết bàn và cho nó là
chân lý thì mình không thật sự tự do. Thế giới của bản môn không
còn Kiến, ý niệm. Vì thế niết bàn là sự tắt ngấm những khái niệm,
tắt ngấm những cái tưởng. – Dù là quan niệm về niết bàn, về vô
thường và về vô ngã - những quan niệm trên có thể mang tới khổ
đau nếu ta sử dụng chúng để chống đối nhau.
Tương đối và tuyệt đối
Melvin Mc Leod : Tôi thật sự thích thú khi nghe thầy giảng về những điều mà các
truyền thống Phật giáo khác gọi là sự thật tương đối và sự thật
tuyệt đối. Thầy thì gọi đó là bình diện tích môn và bình diện
bản môn. Rất nhiều điều thầy dạy chú trọng đến sự thật tương đối
hay bình diện tích môn, như là nguyên tắc tương quan tương duyên
mà Thầy hay gọi là tương tức (interbeing). Đó có phải là cách
thầy diễn tả thực tại toàn bộ hay không ? Hay là còn một thực
tại nằm ngoài cái tuệ giác là không có sự vật nào có thể hiện
hữu độc lập với nhau và mọi sự vật đều tương duyên.
Thích Nhất Hạnh : Trong đạo Bụt có hai cách diễn tả thực tại : bình diện tướng và bình diện tánh. Tông phái Trung Quán(Madhyamika)
và thiền Tào Động, đều hướng dẫn thiền giả đi thẳng vào tánh chân
thật của mình. Còn trường phái A Tỳ Đàm thì thiền giả được dạy tùng tướng nhập tánh nghĩa là tiếp xúc thật thâm sâu
với tướng thì mình sẽ đồng thời đi vào tánh. Sống thật thâm sâu
trong tích môn sẽ tiếp xúc được đồng thời với bản môn. Cũng như
một lượn sóng. Mình có thể thấy sự phát sinh và sự chấm dứt của
một lượn sóng. Có những lượn sóng to, có những lượn sóng nhỏ,
lượn sóng cao, lượn sóng thấp. Nhưng lượn sóng cũng đồng thời
là nước. Dĩ nhiên là lượn sóng có thể chỉ sống được đời sống của
một lượn sóng thôi. Nhưng một lượn sóng có thể thấy và đi sâu
hơn. Thấy mình vừa là sóng vừa là nước. Sóng thì có sanh ra và
có bị tan biến (chết đi) nhưng nếu lượn sóng chịu nhìn sâu hơn
và thấy rõ mình vừa là sóng mà cũng vừa là nước thi sóng sẽ mất
hết sợ hãi. Sinh ra, tan biến, đến, đi không làm cho sóng sợ hãi
vì sóng biết mình vừa là sóng mà cũng vừa là nước. Nước thi không
sinh ra không chết đi, không đến không đi đâu hết. Khi nhân duyên
đầy đủ sóng biểu hiện, khi nhân duyên không đầy đủ, sóng ẩn tàng....
Vì thế sóng cũng có hai bình diện: tích môn thì có sanh có diệt,
có đến có đi có cao có thấp, mà bản môn thì không sanh không diệt,
không cao, không thấp.... Hai bình diện mà là một, không chia
chẻ. Khi mình tiếp xúc với bình diện này(tướng - tích môn) đủ
thâm sâu thì đồng thời cũng tiếp xúc luôn bình diện kia (tánh
- bản môn).
MelvinMc Leod:
Tôi có nói chuyện với một số người mà hình như đã hiểu rằng khái
niệm về tương tức là một lời tuyên bố rằng tất cả vốn là một.
Đó cũng vẫn là một khái niệm (kiến) . Thế thì có lẽ ngay cả cái
khái niệm - tất cả là một- cái kiến đó chúng ta cũng không nên
nắm giữ phải không?
Thích Nhất Hạnh:
Đúng thế. Một là một khái niệm mà nhiều cũng là khái niệm. Cũng như có (hiện hữu) hay không ( không hiện hữu) cũng là khái niệm. Anh
nói rằng Thượng Đế là nền tảng của hữu thể (being) nhưng nếu thiên
hạ hỏi : Thế thì ai là nền tảng của vô thể (non-being) ? (cười).
Thành ra cái khái niệm về hiện hữu hay khái niệm về không hiện
hữu cũng chỉ là những khái niệm, không phải là thực
tại . Khái niệm khác (dị) và khái niệm
một (đồng) , cũng là khái niệm. Là một hay là
khác cũng là khái niệm. Niết bàn là sự tắt ngấm mọi
khái niệm, kể cả khái niệm về một và khái
niệm về khác. Vì thế tương tức không có nghĩa là mọi sự vật là
một. Nó giúp ta lấy ra hết những cặp khái niệm: một -nhiều, có-
không, dị - đồng. Mình buông bỏ hết những khái niệm, những cái
thấy chia chẻ.
Melvin McLeod : Thầy nói Bụt là một con người. Nhưng Đại Thừa nói có vô lượng
Bụt và Bồ Tát ở trong mọi cõi đang trải lòng từ đến mình. Làm
sao những người Tây phương duy lý chúng tôi có thể hiểu những
vị Bụt và Bồ Tát này? Làm sao chúng ta có thể mở lòng ra với họ
khi chúng ta không thể nhận biết họ qua năm giác quan?
Thích Nhất Hạnh : Trong đạo Bụt, Bụt được xem như một vị thầy, một con người,
chứ không phải một vị thần linh. Ta cần phải nói cho mọi người
biết cái điều thật quan trọng đó. Chúng ta không cần Bụt là một
đấng thần linh. Ngài là một vị đạo sư, như vậy là đủ lắm cho chúng
ta rồi! Tôi nghĩ chúng ta cần phải nói cho các bạn ở Tây phương
biết như vậy. Và chính vì Bụt là một con người, cho nên vô lượng
người mới thành Bụt được.
Melvin McLeod : Bụt có chết không?
Thích Nhất Hạnh : Đương nhiên. Đã là một con người thì phải có sinh và có tử.
Đó là bình diện tích môn. Nhưng rồi mình phải tiếp xúc với Bụt
một cách sâu sắc để tiếp xúc cho được bình diện bản môn của Ngài.
Anh nên tập tiếp xúc với một con người thường – không phải là
Bụt - như anh hay tôi. Nếu mình nhìn sâu vào tự thân, mình thấy
mình có tích môn – có sinh và có tử. Nhưng nếu mình nhìn sâu hơn
nữa, mình sẽ thấy bản chất đích thực của mình là vô sinh, bất
diệt. Mình cũng giống như Bụt: chưa bao giờ từng sinh và cũng
sẽ không bao giờ chết. Vậy thì trong anh, tôi thấy một vị Bụt;
trong mỗi người tôi đều thấy Bụt bản môn. Đó là lý do vì sao mình
có thể nói đến vô lượng Bụt. Chính bởi Bụt là một con người nên
mới có thể có vô lượng Bụt.
Chúng ta nên nhớ rằng
trong tích môn có chứa đựng bản môn. Chúng ta không thật sự có
sinh và diệt. Giống như một đám mây. Đám mây không thể nào chết
được; đám mây chỉ có thể trở thành mưa, tuyết hay nước đá thôi
chứ không thể nào trở thành hư vô. Đó là thực tánh của đám mây.
Vô sinh bất diệt. Bụt cũng có cùng tự tánh vô sinh bất diệt ấy,
và mình cũng có cùng một tự tánh vô sinh bất diệt ấy.
Chúng ta biết trên trái
đất này có nhiều người đầy từ bi và trí tuệ. Họ là những vị Bụt.
Đừng nghĩ rằng Bụt ở đâu xa trên trời. Mình tiếp xúc với Bụt ở
trong mình; mình tiếp xúc với Bụt nơi những người chung quanh.
Điều này có thể làm được ngay bây giờ và ở đây, mầu nhiệm như
vậy.
Bụt ở ngay đây. Nếu mình
biết thực tập thiền hành thì mình có thể thưởng thức Tịnh Độ ngay
bây giờ và ở đây. Đây không phải là nói về Tịnh
Độ, đây là thực sự nếm Tịnh Độ. Trong truyền
thống của chúng tôi, mình phải đi như thế nào để mỗi bước chân
giúp mình tiếp xúc được với Tịnh Độ. Tịnh Độ có mặt cho mình bây
giờ và ở đây. Vấn đề là mình có có mặt cho Tịnh Độ hay không.
Mình có bị vướng vào những ganh tị, giận hờn, lo sợ của mình hay
không? Nếu thế thì Tịnh Độ không thể có. Với Niệm và Định, mình
có thể tiếp xúc với thế giới cực lạc của chư Bụt và Bồ Tát ngay
bây giờ và ở đây. Đó không phải là lý thuyết. Đó là cái mà chúng
tôi sống mỗi ngày, thực tập mỗi ngày. Đó là điều ai cũng làm được.
Nhiều người trong chúng
tôi có khả năng làm được việc đó. Khi nói chuyện với những nbạn
Cơ Đốc Giáo, tôi nói Nước Chúa phải là đây hay là sẽ không bao
giờ có cả. Khi mình có tự do, Nước Chúa có đó cho mình. Nếu mình
không có tự do, Nước Chúa sẽ không bao giờ có mặt, kể cả trong
tương lai. Đồng một giáo lý và thực tập có thể được chia sẻ giữa
nhiều truyền thống khác nhau.
Melvin McLeod: Thầy đã sống một cuộc sống dài qua một thế kỷ đau thương hơn bất
cứ thế kỷ nào, trên một quê hương thống khổ hơn bất cứ quê hương
nào. Tôi nghĩ nhiều người đang nhìn vào thế kỷ này, và một lần
nữa, nhận ra những mầm mống thảm hoạ trên cả hai phương diện --
con người và thiên nhiên. Theo Thầy, thế giới đang đi về đâu?
Thích Nhất Hạnh: Tôi nghĩ trong thế kỷ hai mươi điều nổi bật nhất là chủ nghĩa
cá nhân, hơn một trăm triệu người đã chết vì chiến tranh. Có quá
nhiều bạo động, có quá nhiều tàn phá sự sống và thiên nhiên. Nếu
chúng ta muốn thế kỷ 21 khác hơn, nếu chúng ta muốn trị liệu và
chuyển hoá, thì mọi người cần phải nhận thức rằng chúng ta là
những phần khác nhau của cùng một cơ thể, rằng sự an nguy của
những thành phần khác cũng là sự an nguy của chính mình. Nhận
thức này rất thiết yếu. Sinh vật học hiện đại đã thấy rằng con
người chính là một cộng đồng của hàng tỉ tế bào. Không có tế bào
nào là chủ cả; mỗi tế bào trong cơ thể hợp tác với các tế bào
khác để tạo ra năng lượng cần thiết giúp cho cơ thể được bảo vệ
và phát triển. Chỉ có sự tỉnh thức đó, chỉ có tuệ giác đó -- rằng
sự an nguy, hạnh phúc, khổ đau của chúng ta không phải là một
cái gì riêng rẽ mà là một vấn đề chung -- mới có thể ngăn ngừa
tác hại phát sinh từ chủ nghĩa cá nhân của thế kỷ hai mươi.
Tuệ giác vô-ngã, không
có cái ta riêng biệt, tuệ giác cọng sinh này rất thiết yếu cho
sự sống còn của chúng ta và của hành tinh này. Không nên để cho
cái thấy nầy chỉ là những khái niệm sách vở; tuệ giác này phải
được sống linh động trong đời sống hằng ngày của mọi người. Trong
trường học, trong ngành doanh thương, trong Quốc Hội, trong hội
đồng thành phố, trong gia đình chúng ta phải thực tập để nuôi
dưỡng tuệ giác rằng chúng ta là các phần khác nhau của cùng một
cơ thể , rằng bất cứ chuyện gì xảy ra cho các tế bào kia cũng
đồng thời xảy ra cho mình. Tuệ giác này hoàn toàn đi đôi với khoa
học cũng như đi đôi với tinh thần đạo Bụt. Chúng ta cần học để
sống với nhau như một cơ thể.
Tôi đã dành nhiều thời
gian để xây dựng các cộng đồng và tôi đã học được nhiều từ đó.
Ở Làng Mai chúng tôi tập sống như một cơ thể. Không ai có xe riêng,
sổ ngân hàng riêng, điện thoại riêng. Ấy vậy mà vẫn hạnh phúc.
Thực tập căn bản của chúng tôi là xem mỗi người như một tế bào
của cơ thể, và đó là vì sao tình huynh đệ trở nên hiện thực. Khi
mình được nuôi dưỡng bởi tình huynh đệ thì hạnh phúc có mặt, và
nhờ vậy mà mình có thể làm không biết bao nhiêu là việc để giúp
cho người ta bớt khổ.
Điều này có thể thấy được,
sờ mó được. Đây không phải là điều nói suông. Đây là sự hành trì,
sự thực tập; mỗi hơi thở, mỗi bước chân đều nhắm đến thực hiện
cái chung này. Sống trong một cộng đồng như vậy rất mầu nhiệm,
vì sự an lạc của người kia cũng chính là sự an lạc của mình. Mang
lại hạnh phúc cho một người, mình cũng đem lại hạnh phúc cho từng
người trong Chúng. Đó là vì sao tôi nghĩ rằng xây dựng cộng đồng,
xây dựng tăng là công việc quan trọng nhất, cao quý nhất mà chúng
ta có thể làm.
Cũng giống như trong lớp
học, nếu cô giáo biết cách tổ chức lớp học như một gia đình, học
sinh sẽ khổ ít hơn và có nhiều niềm vui hơn. Trong hội đồng thành
phố hay trong một thương nghiệp cũng vậy. Những người lãnh đạo
thương nghiệp có thể tổ chức công ty như một gia đình trong đó
mọi người xem nhau là những tế bào trong cùng cơ thể.
Chúng ta biết trong cơ
thể mình có nhiều loại tế bào: tế bào gan, tế bào phổi, tế bào
thần kinh. Tế bào nào cũng làm hết sức mình. Không có sự ganh
tị về địa vị với các tế bào khác, vì không có sự phân biệt. Làm
một tế bào gan cho tốt là mình đã nuôi dưỡng các tế bào khác rồi.
Tế bào nào cũng đóng góp cái hay nhất của mình để mang lại sự
hài hoà, khoẻ mạnh cho toàn cơ thể. Không có sự kỳ thị, không
có chiến tranh giữa các tế bào, đó là điều mình học được từ ngành
sinh học hiện đại. Chúng ta có thể tổ chức theo cách này trong
gia đình, lớp học, hội đồng thành phố, Quốc Hội. Đó là điều có
thể làm được, bởi vì nếu các tế bào của chúng ta có thể làm chuyện
đó thì con người chúng ta cũng có thể làm được chuyện đó
Tình yêu thương
Melvin McLeod : Hy vọng Thầy không phiền tôi hỏi câu này, Thầy cũng không cần
phải trả lời nếu không tiện. Nhưng tôi rất cảm động khi đọc những
gì Thầy viết về mối tình Thầy từng có với một người mà rõ ràng
Thầy đã yêu thương rất nhiều và rồi đã từ bỏ người đó. Bây giờ
thì Thầy thấy chuyện đó ra sao? Chuyện đó, ở thời điểm này của
đời Thầy, có phải là điều đáng tiếc không?
Thích Nhất Hạnh : Tình yêu đó chưa bao giờ mất. Nó tiếp tục phát triển. Đối tượng
thương yêu của tôi được mở rộng ra mỗi ngày, mỗi ngày, mỗi ngày,
cho đến khi tôi có thể ôm được tất cả mọi người. Thương một người
là một cơ hội mầu nhiệm để mình thương mọi người. Nếu như đó là
tình thương đích thực. Trong tuệ giác vô-ngã, mình thấy đối tượng
của tình thương mình luôn có đó, và tình thương của mình tiếp
tục phát triển. Không có gì mất đi cả, và mình không hối tiếc
điều gì, bởi vì nếu mình có tình thương đích thực trong lòng thì
mình và tình thương ấy cùng đi về một hướng, và mỗi ngày mình
đều có thể thương thêm được nhiều hơn và nhiều hơn. Vì vậy, thương
một người là cơ hội lớn để mình thương được nhiều người hơn.
Melvin McLeod : Thế nhưng trong đời sống xuất gia, Thầy khuyến khích những người
muốn trở thành tu sĩ từ bỏ tình yêu ấy. Tại sao lại nên từ bỏ
cơ hội thương yêu này?
Thích Nhất Hạnh : Trong đời sống xuất gia, mình nguyện phát triển hiểu biết và
thương yêu. Mình phát triển khả năng ôm trọn tất cả mọi người
trong tình thương của mình. Vì vậy, như tôi đã nói, thương một
người là cơ hội để mình biết thương được thật nhiều người. Nhất
là khi người kia , những người kia có cùng lý tưởng với mình,
thì càng thương càng giàu có và càng hạnh phúc, không có khổ đau
gì hết. Là một người xuất gia, mình sống đời sống phạm hạnh và
ở với Chúng cùng tu với mình. Nếu người mình thương biết vậy thì
người đó sẽ không khổ mà mình cũng sẽ không khổ, bởi vì tình thương
chân thật rộng lớn và thâm sâu hơn là việc quan hệ giới tính.
Bởi vì trong một tình thương lớn mình có thể hy sinh khía cạnh
đó của tình yêu, và tình thương của mình trở nên cao cả hơn, thâm
sâu hơn. Tình thương đó nuôi dưỡng mình, nuôi dưỡng người kia,
nuôi dưỡng mọi người chung quanh và cuối cùng tình thương đó không
còn biên giới nữa. Đó là tình thương của Bụt.
|
|
|