|
Trong tiểu thuyết L'étranger của Albert Camus, có một người tử tù bốn mươi mấy tuổi rồi mà chưa bao giờ thật sự thấy trời xanh. Ông ấy bị ở tù tại vì trong một cơn bực bội ông đã giết chết một người, ông tên là Meursault. Hôm đó ông biết rằng là ngày mai ông sẽ bị đem xử tử. Nằm trong phòng giam, ngửa đầu lên ông thấy một cái khung cửa tò vò, qua khung cửa tò vò đó ông thấy được trời xanh. Ông rất ý thức chỉ còn hai mươi bốn giờ đồng hồ nữa ông sẽ bị xử tử, và kỳ này không biết tại sao ông thật sự thấy được trời xanh. Chưa bao giờ ông thấy được trời xanh như vậy mà trời xanh đó chỉ được thấy qua một khung cửa nhỏ. Sống tới bốn mươi mấy tuổi rồi mà ông ta chưa bao giờ nhìn và thấy được trời xanh một cách sâu sắc như vậy. Khi ta nhìn một cái gì, ta phải nhìn sao để cho thấy được sâu sắc và sau này khi người ta có hỏi: "Sao, anh sống ở trên thế gian mấy chục năm anh đã thấy trời xanh lần nào chưa?" Ta phải nói là có thấy. Khi thấy được trời xanh như thế thì trời xanh không còn ở trong một giấc mơ nữa mà đó là thực tại, đó gọi là thật địa. "Bộ bộ đạp trước thật địa", mỗi bước ta đi đều dẫm vào đất đai của thực tại. Có một lần tôi tiếp một ký giả của nhật báo San Francisco Chronicle, sau khi phỏng vấn xong tôi đưa ông ra xe và chỉ cho ông bước những bước chân chánh niệm như thế từ chỗ ngồi phỏng vấn dưới ba cây tùng cho đến bãi đậu xe. Nửa đường tôi mời ông dừng lại, ngửng lên nhìn trời xanh và đề nghị ông thực tập: "thở vào tôi thấy trời xanh, thở ra tôi mỉm cười với trời xanh". Trước khi từ biệt ông nói với tôi: "Tôi chưa bao giờ nhìn trời xanh như vậy cả!" Có chút năng lượng chánh niệm thì trời xanh thật sự là trời xanh. Mỗi giây phút trong đời sống hàng ngày của ta, ta phải sống như vậy. Có chánh niệm thì tất cả đều trở thành thật. Trong khi sống như vậy thì tâm của ta ở trong vòng tay của ta, nó không còn đi như con ngựa hoang nữa. Vì vậy cho nên có sự khác biệt giữa việc điều phục con ngựa hoang với việc điều phục tâm. Nếu ta biết phương pháp điều phục tâm thì điều phục tâm không làm ta đau khổ như khi con ngựa bị điều phục, tại vì phương pháp chánh niệm thực tập ở Làng Mai rất dễ chịu, mỗi giây phút đều có thể đưa tới sự an lạc và hạnh phúc. Hơi thở cũng vậy mà bước chân cũng vậy. Thực tập đưa lại sự hoan lạc và nuôi dưỡng chứ không làm cho ta phải trầy da tróc vẩy như sợi xích cột chân voi lại hay sợi thòng lọng cột cổ con ngựa lại. Tâm ta hung hăng nhưng ta có những phương pháp bất bạo động để ôm lấy tâm của ta như nắm lấy bước chân và nắm lấy hơi thở. Ta có thể thực tập bài kệ này trong khi ngồi thiền. Nếu trong khi ngồi thiền mà không biết làm gì thì quý vị hãy thực tập bài này đi. Ta có thể bắt đầu buổi ngồi thiền của mình bằng bài này. Trước khi thỉnh chuông cũng vậy, trước khi ăn cơm và trong khi ăn cơm cũng vậy, khi rửa chén, nấu nước, chạy bộ, bất cứ giờ phút nào ta cũng thể thực tập quy y Tam Bảo cả. Bản chất của bài này là quy y Tam bảo và như đã nói, Tam bảo đây không phải đối tượng của sự thờ cúng, tín ngưỡng. Tam bảo đây là những năng lượng có thật ở trong ta, ta chạm tới là nó phát khởi. Đó là năng lượng của chánh niệm, của pháp, của năm uẩn.
Nếu ta chỉ có một bài kệ để thực tập thì sau một thời gian bài kệ có thể bị soi mòn và bài đó sẽ không còn hiệu nghiệm nữa. Dù bài đó có hay mấy đi nữa mà ta sử dụng nhiều quá nó sẽ lờn. Cũng như một bài hát mà ta ưa thích, ta cứ nghe hoài nhưng nghe tới tuần thứ hai thì ta sẽ ngán. Ngán như thế thì rất uổng. Ta phải giữ cho bài đó luôn luôn được tươi mát. Cũng vì vậy cho nên ta phải xen kẽ và sử dụng những bài khác nữa.
Bài thứ hai cũng là một thiền phổ rất quý, đó là bài "Vào ra sâu chậm". Bài này tiếng Anh và tiếng Pháp có khác thành ra khi dịch, quý vị phải linh động.
Vào ra
Sâu chậm
Khỏe nhẹ
Lặng cười
Hiện tại tuyệt vời.
Đây là một thiền phổ rất đơn giản có thể thực tập trong bất cứ lúc nào trong ngày. Thiền ngồi cũng như thiền đi: "Vào ra" tức là thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra, nói tắt lại. Khi thở vào ta biết là hơi thở vào đang xảy ra. Tâm của ta không nghĩ đến chuyện gì khác. Tâm ta nắm lấy hơi thở. Nắm lấy hơi thở tức là nắm được tâm, tâm không chạy nữa. Hơi thở có chánh niệm là sợi cương nắm lấy tâm. Nội thực tập được câu đầu này là ta nắm được tâm rồi. Thở vào, đây là hơi thở vào của tôi, nhận diện hơi thở vào là hơi thở vào. Khi thở vào tôi biết rằng tôi đang thở vào và khi thở ra tôi biết tôi đang thở ra, đó là bài tập đầu do chính đức Thế Tôn dạy trong kinh An Ban Thủ Ý. Sâu chậm có nghĩa là hơi thở vào đã sâu, hơi thở ra đã chậm. Nếu ta thực tập thở vào biết thở vào, thực tập thở ra biết thở ra trong một hai phút mà thành công rồi thì tự nhiên hơi thở vào sâu hơn và hơi thở ra sẽ chậm hơn, cả hai hơi thở vào ra đều sâu đều chậm. Đây là sự nhận diện tôi thở vào và tôi biết rằng hơi thở vào của tôi đã sâu hơn trước, chứ không phải tôi đang thở vào và cố gắng làm cho hơi thở vào sâu thêm. Sâu hơn chậm hơn có nghĩa là phẩm chất của hơi thở đã cao hơn trước. Trước khi ta thực tập thì hơi thở vào và hơi thở ra của ta ngắn và hổn hển, nhưng khi ta thực tập được nửa phút hoặc một phút rồi thì hơi thở vào của ta nhẹ lại, sâu lại, lắng lại, chậm lại và bắt đầu có sự thư thái ở trong thân tâm. Sở dĩ như vậy là vì nếu có sự thư thái nhẹ nhàng trong hơi thở thì cũng có sự nhẹ nhàng thư thái trong thân và tâm của mình. Hơi thở là môi giới giữa thân và tâm. Thở vào tôi nhận thức rằng hơi thở vào của tôi đã bắt đầu sâu, thở ra tôi nhận thấy rằng hơi thở ra của tôi bắt đầu chậm lại. Phẩm chất của hơi thở đã lên cao. Thở vào tôi thấy khỏe. Thấy khỏe đây không phải tự kỷ ám thị. Tại sao đó không phải là tự kỷ ám thị? Tại vì nếu ta thành công trong hai bài tập đầu rồi, thì tự nhiên trong người ta thấy khỏe. Khi ta khỏe mà ta biết ta đang khỏe thì ta sẽ thấy khỏe thêm. Thở vào tôi cảm thấy khỏe, thở ra tôi cảm thấy nhẹ, chữ nhẹ ở đây là "khinh an", ta có thể dịch là "I feel light" hay "I feel at ease", chữ khỏe ở đây ta có thể dịch là "I feel good". Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười, an trú trong hiện tại, giây phút đẹp tuyệt vời. Ta chỉ có một giây phút để sống thôi, đó là giây phút hiện tại. Nếu trở về giây phút hiện tại, ta sẽ tiếp xúc được với bao nhiêu mầu nhiệm ở trong ta và xung quanh ta. Bài kệ này ta có thể hát được bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh hoặc tiếng Việt. Có một cái lợi cho những người thực tập bằng tiếng Việt, tại vì ngôn ngữ Việt Nam là đơn âm nên phối hợp với bước chân rất dễ, mỗi bước đều nhau; nhưng những người nói tiếng Pháp và tiếng Anh, nếu khôn một chút, cũng có thể tạo ra được những nhịp như khi ta tụng Tâm Kinh theo đơn âm, theo tiếng mõ và ta có thể tụng chung được cả chúng một lần rất dễ. Tôi xin cam đoan với quý vị chỉ sau vài tuần thực tập, quý vị sẽ thấy có sự thay đổi. Thở vào tôi thấy tâm tôi đã tĩnh lặng và thở ra tôi mỉm cười để công nhận rằng trong tôi có sự tĩnh lặng. Thở vào tâm tĩnh lặng cũng là bài tập của đức Thế Tôn. Khi ta có một cảm thọ hoặc cảm xúc nào đó và ta thực tập bài này thì cảm xúc hoặc cảm thọ đó sẽ êm dịu trở lại, đó gọi là thở vào tâm tĩnh lặng. Khi thực tập bài này ta đưa tới sự buông thư của thân và của tâm. Sự buông thư của tâm không thể có được khi không có sự buông thư của thân, cho nên bài này cũng có thể thực tập trong tư thế nằm. Trong bốn tư thế đi, đứng, nằm, ngồi ta đều có thể thực tập được bài này. Bài trước cũng vậy. Bài này cũng có thể thực tập trong khi ăn vì trong khi ăn ta không nói chuyện, ta vẫn tiếp tục thở có chánh niệm như thường và ta có thể nhai cơm theo bài này được. Bài này là một thiền phổ rất hay, quan trọng không kém một bài thoại đầu và đáng giá ngàn vàng. Tôi thực tập rất nhiều với bài này: khi bước ba bước thì ta đếm vào, vào, vào, ra, ra, ra, sâu, sâu, sâu, chậm, chậm, chậm. Phải vào, ra một thời gian, đi cho vững rồi ta mới đi tới sâu chậm. Ta thở bằng hai chân của ta và ta đừng tụng kinh "vào, vào, ra, ra" mà ta phải thực sự vào ra, thực sự sâu chậm. Cố nhiên ta có thể không dùng bài kệ nào hết mà vẫn có thể dẫm vào thực tại, an trú chánh niệm trong từng bước chân. Nhưng khi tâm ta còn là con ngựa hoang thì ta phải cần dùng một vài dây cương, một vài sợi dây để kéo lại. Còn khi ta đã đi giỏi rồi thì đâu cần bài gì nữa, mỗi bước chân của ta thành ra một dấu ấn in xuống đất sự an lạc, sự thảnh thơi của ta. Đi như vậy một hồi thì mảnh đất ta đi trở thành thánh địa. Ta đi và để lại dấu ấn của sự an lạc, sự hạnh phúc của ta trên đó, người khác bước lên sẽ cảm thấy. Khi con ngựa thuần rồi, ta không cần những sợi dây cột nữa nhưng khi ta chưa nắm được nó thì ta phải sử dụng những sợi dây cho thật vững. Những sợi dây này dễ chịu lắm, không làm cho ta trầy da như những sợi xích sắt cột chân voi hay sợi thòng lọng xiết cổ ngựa.
Đây là Tịnh độ
Tịnh độ là đây
Mỉm cười chánh niệm
An trú hôm nay
Bụt là lá chín
Pháp là mây bay
Tăng thân khắp chốn
Quê hương nơi này
Thở vào hoa nở
Thở ra trúc lay
Tâm không ràng buộc
Tiêu dao tháng ngày.
Đây là một bài khác, bài "Đây là Tịnh Độ". Với bài này quý vị có thể thực tập mỗi hơi thở vào bốn bước, mỗi hơi thở ra bốn bước. Bài này đem lại cho ta nhiều hạnh phúc. Pháp môn của Làng Mai là không đi tìm Tịnh Độ trong tương lai. Tương lai có thể là một ảo tưởng, nếu trong giây phút hiện tại ta không tiếp xúc được với Tịnh Độ thì đừng mong gì trong tương lai ta có Tịnh Độ. Nếu trong giây phút hiện tại mà ta tiếp xúc với Tịnh Độ rồi thì chắc chắn Tịnh Độ sẽ có ở tương lai thật sự. Những mầu nhiệm mà ta trở về tiếp xúc được trong giây phút hiện tại đều thuộc về Tịnh Độ. Chính thân của ta cũng thuộc về Tịnh Độ, cũng mầu nhiệm như Tịnh Độ. Không phải Tịnh Độ là một cái gì có ngoài thân và tâm ta. Thân của ta cũng mầu nhiệm như Tịnh Độ. Tịnh độ không phải là một khung cảnh, một xứ sở có ngoài ta. Thân tâm ta mà không thuộc về Tịnh Độ thì không bao giờ ta vào được Tịnh Độ. Chỉ khi nào thân và tâm của ta thuộc về Tịnh Độ thì ta mới đi vào Tịnh Độ. Cho nên sự thực tập của ta là mỗi bước chân đi vào Tịnh Độ. Và nếu anh không bước vào Tịnh Độ trong khi anh đang còn có mặt ở đây thì sức mấy mà anh bước vào được Tịnh Độ trong tương lai. Mà bước vào Tịnh Độ nhờ cái gì? Nhờ chánh niệm, tại vì chánh niệm đánh tan thất niệm, đánh tan tán loạn và đưa tới tuệ giác. Tuệ giác cho ta biết rằng trong giây phút hiện tại ta đang sống những giây phút mầu nhiệm của Tịnh Độ ở trong ta và chung quanh ta.
Đây là Tịnh Độ
Tịnh độ là đây
Mỉm cười chánh niệm
An trú hôm nay
Nụ cười này không phải nụ cười ngoại giao, nụ cười làm duyên mà là nụ cười của chánh niệm. Tại sao phải cười? Tại vì sự sống mầu nhiệm quá chừng. Ta đã sống bao nhiêu năm rồi: ba chục, bốn, năm chục năm rồi. Thời gian vừa qua ta từng chạy theo những bóng dáng, những ảo tưởng. Bây giờ tỉnh rồi, ta biết quý những giây phút, những ngày giờ còn lại của ta và nguyện không xài phí một cách oan uổng ngày giờ của ta nữa. "Mỗi phút một viên ngọc quý, tóm thâu đất nước trời mây, chỉ cần một hơi thở nhẹ là bao phép lạ hiển bày: chim hót thông reo hoa nở, trời xanh mây trắng là đây". Sống như vậy mới là nghệ thuật sống và điều này ta có thể làm được bây giờ. Với tâm sáng chói đó, với chánh niệm đó ta có thể làm được như Bụt. Mỗi bước chân đi vào Tịnh Độ ở đây không phải chuyện mơ tưởng. Thực tập của Làng Mai không phải là chuyện mơ tưởng. Ta không đầu tư vào tương lai vì những gì ta muốn đều có thể có trong giây phút hiện tại. Mỉm cười chánh niệm là như vậy, an trú hôm nay tức là trở về giây phút hiện tai. Bụt ở đâu? Bụt là lá chín. Bài này được viết trong mùa thu khi lá đang vàng tươi hay đỏ au. Người ta nói tới trái cây chín nhưng lá cũng chín và rất đẹp. Nhìn vào một tờ lá đỏ hay vàng au mà thấy Bụt, thấy Tịnh Độ trong đó tức là ta đã thành công rồi. Ta còn muốn đi tìm Bụt, tìm Pháp và Tịnh Độ ở đâu nữa? Nếu ta thấy được một tờ lá đỏ đẹp và mầu nhiệm như vậy thì Bụt, Tịnh Độ ở ngay trong tờ lá đó. Bụt là lá chín, Pháp là mây bay, những người theo Cơ Đốc giáo cũng phải thực tập như vậy. Đừng tìm Thượng để ở trên mây, trên trời mà phải tìm Thượng đế ngay trong giây phút hiện tại. Phải tìm Thượng đế ngay trong tờ lá đỏ, trong đám mây bay và phải có hạnh phúc ngay trong lúc đó thì mới tiếp xúc được với Thượng đế, còn nếu không thì Thượng đế chỉ là một ý niệm mơ hồ viễn vông. Đó là sự hy vọng vào tương lai. Thấy lá mình thấy Bụt, thấy mây mình thấy Pháp. Tăng thân khắp chốn, tăng thân ở đây không hẳn chỉ là người mà có thể là cây, là rừng, là lá, chỗ nào cũng có tăng thân. Quê hương nơi này, cũng như tổ Lâm Tế nói, giây phút nào cũng là giây phút trở về nhà mình. Trở về quê hương đích thật của ta là giây phút hiện tại thì ta không đi tìm hạnh phúc ở đâu nữa cả. Quê hương là giây phút hiện tại, ngay chỗ này, ngay giây phút này và như vậy là ta tiếp xúc được với Bụt, Pháp và Tăng.
Quý vị thực tập bài này cũng là quy y Tăng, cũng là thực tập nương tựa Tam bảo. Thở vào thì anh thấy gì? Hoa nở nghĩa là những mầu nhiệm của sự sống. Thở ra anh thấy gì? Thấy trúc lay. Tâm không ràng buộc, không ràng buộc đây tức là không ràng buộc bởi những dự án, những mong ước tương lai của mình bởi vì ngay bây giờ, ở tại đây là đã có hạnh phúc tràn trề rồi. Ta không cần thiết kế một tương lai hay ao ước những gì mà ta chưa có. Ta cũng không tiếc thương quá khứ vì tất cả những cái đó đều là những ràng buộc. Tiếc thương về quá khứ hay ngóng trông những gì trong tương lai đều là ràng buộc. Tâm không ràng buộc, tiêu dao tháng ngày. Tiêu dao tức là tự do và có hạnh phúc trong mỗi giây phút. Khi ăn cơm, quý vị có thể ăn cơm theo bài này. "Đây là Tịnh Độ, Tịnh Độ là đây", thì ta còn đi tìm Tịnh Độ ở đâu nữa, đi tìm hạnh phúc ở đâu nữa. Được ngồi ăn cơm với tăng thân trong chánh niệm cũng là đang ngồi ăn với Bụt và giáo đoàn nguyên thủy. Bụt và giáo đoàn nguyên thủy không phải thuộc về quá khứ đâu, nếu ta an trú trong hiện tại thì Bụt và giáo đoàn nguyên thủy đang có mặt ngay trong hiện tại. Và vì Bụt là chánh niệm nên không giây phút nào, không bữa cơm nào mà ta không được ăn chung với Bụt. Bài này cũng có bằng tiếng Pháp bằng tiếng Anh.
Bài thứ tư là bài "Đã về đã tới."
Đã về, đã tới
bây giờ ở đây
Vững chãi, thảnh thơi,
Quay về nương tựa ...
---đọc tiếp---
|