Từ Điển Làng Mai

Trang Nhà | Làng Mai | Thiền Sư Nhất Hạnh |Tu Học | Tin Tức | Hình Ảnh | Văn Nghệ | Hiểu và Thương | Tài Liệu | Khóa Tu | Bạn Trẻ
Tăng Thân

C

Các khóa giảng căn bản của Làng Mai (khóa giảng)
Các khóa tu hai mươi mốt ngày
(khóa tu
Call Me By My True Names (sách)
Cam Lộ (chùa, điện đường, lễ lược, nhạc kinh)
Cánh Đại Bàng (điện đường)
Cảnh Nghiêm (tên gọi)
Cắm rễ trong tăng thân (thuật ngữ)
Cẩm Nghiêm (tên gọi)
Cần Nghiêm (tên gọi)
Cẩn Nghiêm (tên gọi)
Cẩn Trọng (bài hát)
Cát Nghiêm (tên gọi)
Câu chuyện dòng sông (thuật ngữ)
Cây Anh Đào (gia đình)
Cây Bồ Công Anh (gia đình)
Cây Bồ Đề (gia đình)
Cây Bông Sứ (gia đình)
Cây Bưởi (gia đình)
Cây Cam (gia đình)
Cây Cẩm Lai (gia đình)
Cây Dâu Tây (gia đình)
Cây Dua (gia đình)
Cây Đu Đủ (gia đình)
Cây Hải Đường (gia đình)
Cây Hồ Đào (gia đình)
Cây Hồng Giòn (gia đình)
Cây Hướng Dương (gia đình)
Cây Khế (gia đình)
Cây Lê (gia đình)
Cây Mãng Cầu (gia đình)
Cây Mộc Lan (gia đình)
Cây Olive (gia đình)
Cây Phong (gia đình)
Cây Phượng (gia đình)
Cây Quế (gia đình)
Cây Quỳnh Hương (gia đình)
Cây Sồi (gia đình)
Cây Sung (gia đình)
Cây Táo (gia đình)
Cây Thốt Nốt (gia đình)
Cây Trà Mi (gia đình)
Cây Trầm Hương (gia đình)
Cây Trúc (gia đình)
Cây Tùng (gia đình)
Cây Vô Ưu (gia đình)
Cây Vú Sữa (gia đình)
Cây Xoài (gia đình)
Cây Xoan (gia đình)
Cậu Đồng (sách)
Câu linh chú thứ năm (thuật ngữ)
Chánh niệm (thuật ngữ, phép tu)
Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện (sách)
Chắp tay trong chánh niệm (phép tu)  
Chân An Hải (tên gọi)
Chân An Hành (tên gọi)
Chân An Nguyên (tên gọi)
Chân An Niệm (tên gọi)
Chân An Quang(tên gọi)
Chân An Thừa (tên gọi)
Chân Ấn Đức (tên gọi)
Chân Bản Nguyên (tên gọi)
Chân Bảo (tên gọi)
Chân Bảo Bi (tên gọi)
Chân Bảo Châu (tên gọi)
Chân Bảo Địa (tên gọi)
Chân Bảo Niệm (tên gọi)
Chân Bảo Thể (tên gọi)
Chân Bảo Tích (tên gọi)
Chân Bi Nghiêm (tên gọi)
Chân Bi Tu (tên gọi)
Chân Bồ Đề (tên gọi)
Chân Cảm Ứng (tên gọi)
Chân Cơ (tên gọi)
Chân Diệu Từ (tên gọi)
Chân Diệu Ý (tên gọi)
Chân Đắc (tên gọi)
Chân Đại Âm (tên gọi)
Chân Đại Đồng (tên gọi)
Chân Đại Kiều (tên gọi)
Chân Đại Tập (tên gọi)
Chân Đại Tuệ (tên gọi)
Chân Đại Ứng (tên gọi)
Chân Đại Ý (tên gọi)
Chân Đăng (tên gọi)
Chân Đạo (tên gọi)
Chân Đạo Hành (tên gọi)
Chân Đạo Trị (tên gọi)
Chân Đạt (tên gọi)
Chân Định Trú (tên gọi)
Chân Đức (tên gọi)
Chân Đức Âm (tên gọi)
Chân Đức Nhãn (tên gọi)
Chân Đức Từ (tên gọi)
Chân Giác Hoa (tên gọi)
Chân Giác Thọ (tên gọi)
Chân Giải Thoát (tên gọi)
Chân Giới Hương (tên gọi)
Chân Hành Trì (tên gọi)
Chân Hảo (tên gọi)
Chân Hiện Quán (tên gọi)
Chân Hòa (tên gọi)
Chân Học (tên gọi)
Chân Hộ Tăng (tên gọi)
Chân Hội (tên gọi)
Chân Huy (tên gọi)
Chân Huyền (tên gọi)
Chân Hương Sơn (tên gọi)
Chân Hướng (tên gọi)
Chân Hữu (tên gọi)
Chân Hỷ Căn (tên gọi)
Chân Khai (tên gọi)
Chân Không (tên gọi)
Chân Kính (tên gọi)
Chân Lạc (tên gọi)
Chân Lương (tên gọi)
Chân Lượng (tên gọi)
Chân Minh Đăng (tên gọi)
Chân Minh Đức (tên gọi)
Chân Minh Trí (tên gọi)
Chân Minh Tuệ (tên gọi)
Chân Môn (tên gọi)
Chân Mỹ (tên gọi)
Chân Ngộ (tên gọi)
Chân Nguyên (tên gọi)
Chân Nguyện (tên gọi)
Chân Nguyệt Quang (tên gọi)
Chân Nguyệt Tâm (tên gọi)
Chân Nghĩa (tên gọi)
Chân Pháp (tên gọi)
Chân Pháp Kiều (tên gọi)
Chân Pháp Lực (tên gọi)
Chân Pháp Nhãn (tên gọi) 
Chân Quang (tên gọi)
Chân Quang Đạo (tên gọi)
Chân Quang Lâm (tên gọi)
Chân Quả (tên gọi)
Chân Sắc (tên gọi)
Chân Sinh (tên gọi)
Chân Thành Tựu (tên gọi)
Chân Thâm Hạnh (tên gọi)
Chân Thâm Tuệ (tên gọi)
Chân Thật (tên gọi)
Chân Thật Đạo (tên gọi)
Chân Thắng Giải (tên gọi)
Chân Thiện (tên gọi)
Chân Thiện Căn (tên gọi)
Chân Thiện Sinh (tên gọi)
Chân Thuyên (tên gọi)
Chân Thừa (tên gọi)
Chân Tiếp (tên gọi)
Chân Tính Không (tên gọi)
Chân Tịnh (tên gọi)
Chân Tịnh Giới (tên gọi)
Chân Tịnh Nhãn (tên gọi)
Chân Trí (tên gọi)
Chân Trí Cảnh (tên gọi)
Chân Truyền (tên gọi)
Chân Tuệ (tên gọi)
Chân Tuệ Hương (tên gọi)
Chân Tuệ Lưu (tên gọi)
Chân Tuệ Ngạn (tên gọi)
Chân Tuệ Thân (tên gọi)
Chân Tuệ Tu (tên gọi)
Chân Tuệ Uyển (tên gọi)
Chân Từ Hạnh (tên gọi)
Chân Từ Nhãn (tên gọi)
Chân Tự Tại (tên gọi)
Chân Từ Ý (tên gọi)
Chân Văn (tên gọi)
Chân Viên Dung (tên gọi)
Chân Viên Minh – Chân Viên Giác (tên gọi)
Chân Viên Thành (tên gọi)
Chân Vị (tên gọi)
Chân Y (tên gọi)
Chân Ý (tên gọi)
Chấp tác (thuật ngữ, phép tu) 
Châu Nghiêm (tên gọi)
Châu Toàn (tên gọi)
Chí Mãn (tên gọi)
Chí Mậu (tên gọi)
Chí Nghiêm (tên gọi) 
Chí Niệm (tên gọi)
Chí Thắng (tên gọi)
Chí Viên (tên gọi)
Chỉ (phép tu)
Chỉ cần các thầy đồng ý (giai thoại)
Chỉ Nam Thiền Tập (sách)
Chỉ Nghiêm (tên gọi)
Chỉ quán (phép tu)
Chỉ quán song hành (thuật ngữ) 
Chỉ Quán Yếu Lược (sách)
Chiếu Nghiêm (tên gọi)
Chim Về Trên Không (sách)
Chín cây trà my (pháp số) 
Chính Nghiêm (tên gọi)
Chỉnh Độ (tên gọi) 
Chỉnh Đức (tên gọi) 
Chỉnh Long (tên gọi) 
Chỉnh Nghiêm (tên gọi)
Chỉnh Phúc (tên gọi) 
Chỉnh Quang (tên gọi) 
Chơn Đệ (tên gọi)
Chùa Lá (cơ sở) 
Chùa Non (chùa)
Chùa Làng Mai (sách)
Chúc Nghiêm (tên gọi)
Chúc Thịnh (tên gọi) 
Chung Nghiêm (tên gọi)
Chúng học (giới điều)
Chủng Thiện (tên gọi)
Chủng tử (thuật ngữ)
Chuyển hóa iện đường, bài hát)  
Chuyển hóa tập khí (thuật ngữ)
Chuyển Niệm (bài tụng)
Chuyển rác thành hoa (thuật ngữ)
Chuyển thức (thuật ngữ)
Chương Nghiêm (tên gọi) 
Chương trình Phật học bốn năm trước 2002 (chương trình đào tạo)  
Chương trình Phật học bốn năm áp dụng từ 2002 (chương trình đào tạo)
Con Cá (gia đình)
Con Chim (gia đình)
Con đang làm gì đó (thoại đầu)
Con đi cho cha (thuật ngữ)
Con Đường Chuyển Hóa (sách)
Con Đường Giải Thoát (khóa tu)
Con Khỉ (gia đình)
Con người thật (thuật ngữ)
Công án (thuật ngữ)
Cộng sản thứ thiệt (thuật ngữ)
Cổ Đạo Vân Bạch (tên sách)
Cổ Pháp (lễ lược)
Cổ Phật khất thực (pháp môn)
Cơ Nghiêm (tên gọi) 
Creating True Peace (sách)
Cry of Viet Nam (sách)
CTC (chức vụ) 
Cultivating The Mind of Love (sách)
Cúc cu… Thầy đây (giai thoại)
Cúc Nghiêm (tên gọi) 
Cung Nghiêm (tên gọi)
Cư Nghiêm (tên gọi)
Cửa Tùng Đôi Cánh Gài
(sách)
Cửa vô sinh mở rồi (thuật ngữ)
Cương Kỷ (tên gọi)


Các khóa giảng căn bản của Làng Mai (khóa giảng) Đây là những khóa giảng mà một vị giáo thọ được đào tạo tại Làng Mai phải học qua và phải biết áp dụng vào sự thực tập. Những khóa giảng này được các vị giáo thọ sử dụng để hướng dẫn các học tăng trong chương trình bốn năm của Viện Cao Đẳng Phật Học. Tất cả đều sẽ được đưa lên mạng Làng Mai để các vị giáo thọ ngoài Làng Mai có thể tải xuống để học hỏi, thực tập và sử dụng. 1. Ba mươi bài tụng duy thức (an cư kết Đông 1988-1989). 2. Tạng Kinh Nam Truyền (an cư kết Đông 1989-1990). 3. Tạng Kinh Bắc Truyền, lịch sử tư tưởng Phật Giáo Đại Thừa (an cư kết Đông 1990-1991 và 1991-1992). Từ khóa này đã có những sách sau đây được phiên tả và ấn hành: Bộ Tát Tại Gia, Bộ Tát Xuất Gia (Kinh Duy Ma Cật), Sen Nở Trời Phương Ngoại (Kinh Pháp Hoa), Kim Cương Gươm Báu Chặt Đứt Phiền Não (Kinh Kim Cương), tất cả đều do Lá Bối xuất bản. 4. Năm Mươi Bài Tụng Duy Biểu (an cư kiết Đông 1992-1993, khóa mùa xuân 1993). 5. Trái Tim Của Bụt (Phật Pháp Căn Bản, an cư kết Đông 1993-1994), khóa giảng này đã được phiên tả và xuất bản thành sách Trái Tim Của Bụt (do nhà Lá Bối ấn hành). 6. Tuổi trẻ, tình yêu và hạnh phúc (Kinh Samidhi, khóa mùa Thu 1994). Nội dung khóa này đã được làm thành sách nhan đề là Hạnh Phúc, Mộng và Thực (do nhà Lá Bối ấn hành) . 7. Truyền thống sinh động của thiền tập (an cư kết Đông 1994-1995, 1995-1996, và 1996-1997). Khóa giảng này đã được làm thành sách nhưng chưa xuất bản, sẽ được đưa lên mạng. 8. Công Phu Nở Đóa Sen Ngàn Cánh (an cư kết Đông 1997-1998, khóa mùa Xuân 1998, an cư kết Đông 1998-1999, khóa mùa Xuân 1999).  Khóa này giảng về tất cả sách kinh trong Nhật Tụng Thiền Môn 2000, tương đương với sách Nhị Khóa Hợp Giải trong truyền thống. 9. Nhiếp Đại Thừa Luận (an cư kết Đông 2000-2001), nền tảng của Duy Biểu Học. 10. Trung Quán Luận, con đường vượt thoát Lưỡng Biên (an cư kết Đông 2001-2002-2002-2003). 11. Lâm Tế Lục (an cư kết Đông 2003-2004 và 2004-2005). 12. Giới và Luật, lịch sử và hành trì (an cư kết Đông 2004-2005). 13. Dị Bộ Tông Luân Luận (lịch sử và tông chỉ các bộ phái Phật giáo, an cư kết Đông 2005-2006). 14. Các Định đề giáo lý Làng Mai (khóa mùa Xuân 2006, khóa mùa thu 2006 và an cư kết Đông 2006-2007).
Các khóa tu hai mươi mốt ngày (khóa tu)  Cứ hai năm một lần, từ ngày 01 đến ngày 21 tháng 06, tại Làng Mai lại có một khóa tu 21 ngày dành cho những vị giáo thọ xuất gia và tại gia và những thiền sinh đã có nhiều kinh nghiệm tu học. Năng lượng của các khóa tu này thường rất hùng hậu, những bài giảng dạy và công phu tu tập được có dịp đi rất sâu, hơn hẳn những khóa tu bảy ngày. (Không phải hùng hậu bằng ba mà bằng bảy lần). Khóa đầu tiên có chủ đề là Kinh Niệm Xứ và Tâm lý Học Phật Giáo – Tìm Lại Tự Do (The Satipatthana Sutta and Buddhist Psychology – Reclaiming our True Freedom), được tổ chức năm 1990; khóa thứ hai có chủ đề Thiền Quán Chiếu Trong Truyền Thống Đại Thừa (Vipassana in the Mahayana tradition), được tổ chức năm 1992. Các bài giảng của khóa này đã được phiên ấn thành sách và được nhà Parallax xuất bản dưới nhan đề Cultivating the Mind of Love (nuôi dưỡng Tâm Bồ Đề); khóa thứ ba có chủ đề Trái Tim Của Bụt (The Heart of the Buddha’s Teaching), được tổ chức năm 1996, đi sâu vào Phật Pháp căn bản. Những bài giảng của khóa này đã được phiên ấn thành sách và được nhà Parallax ấn hành dưới  nhan đề The Heart of the Buddha’s teaching ( Trái Tim Của Bụt); khóa thứ tư (được tổ chức tại trường đại học St. Michael’s College ở tiểu bang Vermont, Hoa Kỳ) có chủ đề Con đường Giải Thoát (The Path of Emancipation), đi sâu vào sự nghiên cứu Kinh An Ban Thủ Ý tụng bản Pali. Những bài giảng của khóa tu này cũng đã được nhà xuất bản Parallax in lại thành sách dưới nhan đề The Path of Emancipation. khóa tu thứ năm có chủ đề Đôi Mắt Của Bụt (The Eyes of the Buddha), được tổ chức năm 2000 tại Làng Mai; khóa tu thứ sáu có chủ đề Bàn Tay Của Bụt (The Hand of the Buddha), được tổ chức năm 2002; khóa tu thứ bảy có chủ đề là Đôi Chân Của Bụt (The Feet of The Buddha), được tổ chức năm 2004; và khóa tu thứ tám có chủ đề là Hơi Thở Của Bụt  (The Breath of The Buddha), được tổ chức năm 2006, đi sâu vào nghiên cứu Kinh An Ban Thủ Ý trong các tụng bản chữ Hán. Tất cả những khóa giảng này đều có thể tải xuống từ mạng Làng Mai.
Call Me By My True Names
(sách) Tuyển tập thơ bằng tiếng Anh của Thầy Làng Mai do nhà Parallax ấn hành năm 1992 tại Hoa Kỳ. Được dịch ra nhiều thứ tiếng và xuất bản ở nhiều nước trên thế giới.
Cam
Lộ (chùa, điện đường, lễ lược, kinh) 1. xem Mai Hoa Thôn Cam Lộ Tự
2. Tên một thiền đường thuộc Xóm Hạ.
3. Tên một đại giới đàn diễn ra từ ngày 10 đến ngày 11 tháng 1 năm 1992 tại Làng Mai trong khóa An Cư Kiết Đông 1998 – 1999. Đây là đại giới đàn đầu tiên tại Làng Mai được cử hành theo nghi lễ truyền thống nhưng tất cả các văn kiện và nghi thức cổ truyền được chính Sư Ông Làng Mai soạn thảo và chuyển ra Việt ngữ thành những bản văn có giá trị văn chương và trở thành những văn kiện quý giá cho các đại giới đàn sau này.

4. Một kinh, lời của Thầy Làng Mai, sĩ Anh Việt phổ . Tào Khê một dòng biếc. Chảy mãi về phương đông. Quan Âm bình nước tịnh. Tẩy sạch dấu phong trần. Cành dương rưới cam lộ. Làm sống dậy mùa xuân. Đề hồ trong cổ họng. Làm lắng dịu muôn lòng. Nam Mô Bồ Tát Cam Lộ Vị.
Cánh Đại Bàng (điện đường) Tên một thiền đường mới được xây dựng năm 2006 tại tu viện Bát Nhã, tại Bảo Lộc, Việt Nam. Thiền đường này có khả năng chứa được hai ngàn người.
Cắm rễ trong tăng thân (thuật ngữ) Tu học trong một đoàn thể mà chấp nhận được đoàn thể ấy là gia đình tâm linh của mình, thấy được mọi người trong tăng thân là anh chị em của mình, không bao giờ có ý muốn rời tăng thân, tin tưởng vào tăng thân, có hạnh phúc khi sống với tăng thân.
Cẩm Nghiêm
(tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1989, tập sự xuất gia năm 2005 (16 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 8 tháng 1 năm 2006 (17 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, Việt Nam, pháp danh Tâm Diệu Yêm, pháp tự Chân Cẩm Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hồng Dòn. Thọ giới Thức xoa ma na năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Là đệ tử thứ 350 của Sư Ông Làng Mai, (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Cẩm Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Cần Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Úc, sinh năm 1950, tập sự xuất gia năm 2001 (51 tuổi), thọ giới Sa Di ngày 7 tháng 2
năm 2002 (52 tuổi) tại chùa Từ Nghiêm – Làng Mai, pháp danh Tâm Diệu Hoa, pháp tự Chân Cần Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Thốt Nốt. Thọ giới thức xoa ma na năm 2004 trong đại giới đàn Lâm Tế. Thọ giới lớn ngày 10 tháng 11 năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ được tổ chức tại Làng Mai. Là đệ tử thứ 131 của Sư Ông Làng Mai, (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Cần Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Cẩn Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1985, tập sự xuất gia năm 2005 (20 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 8 tháng
1 năm 2006 (21 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, Việt Nam, pháp danh Tâm Bối Nguyện, pháp tự Chân Cẩn Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hồng Dòn. Thọ giới Thức xoa ma na năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Là đệ tử thứ 325 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Cẩn Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Cẩn Trọng (bài hát)  Một bài hát do Thầy Làng Mai và bé Trần Đông Phương viết lời và phổ . Qua ngõ vắng. Lá rụng đầy. Tôi theo con đường nhỏ. Đất hồng như môi son bé thơ. Bỗng nhiên tôi cẩn trọng. Từng bước chân đi.
Cảnh Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1981, tập sự xuất gia năm 2005 (24 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 8 tháng 1 năm 2006 (26 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, Việt Nam, pháp danh Tâm Chúc Thu, pháp tự Chân Cảnh Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hồng Dòn. Thọ giới Thức xoa ma na năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Là đệ tử thứ 314 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Cảnh Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Cát Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Bỉ, sinh năm 1978, tập sự xuất gia năm 2000 (22 tuổi),
thọ giới Sa Di ngày 12 tháng 2 năm 2001 (23 tuổi) tại chùa Pháp Vân– Làng Mai, pháp danh Tâm Nguyên Từ, pháp tự Chân Cát Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trà My. Thọ giới thức xoa ma na năm 2004 trong đại giới đàn Lâm Tế. Thọ giới lớn ngày 9 tháng 2 năm 2004 trong đại giới đàn Lâm Tế được tổ chức tại Tu viện Lộc Uyển - Mỹ. Nhận truyền đăng năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa với bài kệ truyền đăng: Cát tường hiện nét trang nghiêm. Quê xưa hoa nở đất thiêng nhiệm mầu. Sen hồng tịnh độ cho nhau. Một kho gia bảo truyền trao muôn đời. Là đệ tử thứ 120 của Sư Ông Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh). Sư cô Cát Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.
Câu chuyện dòng sông (thuật ngữ) Hình ảnh được Thầy Làng Mai thường sử dụng để giúp thiền sinh thấy được cái mình đi tìm đã có sẵn trong tự thân mình. Đây là giáo lý vô đắc. Tuổi trẻ được ví như một dòng suối, chảy ào ạt, mau về tới biển. Đến khi thành dòng sông, nước chảy chậm lại, và dòng sông chảy êm ả hơn. Dòng sông phản chiếu các đám mây đủ sắc, và bắt đầu chạy theo các đám mây. Đám mây tan biến thì dòng sông sầu khổ. Đến khi nhận ra sự thật là đám mây và nước cùng một bản thể thì dòng sông không còn rong ruổi nữa, và đạt tới trạng thái Hiện Pháp Lạc Trú.
Cậu Đồng (sách) Một phóng tác kịch của Thầy Làng Mai từ vở hài kịch Le Tartuffe của Molière, do nhà Sen Vàng xuất bản năm 1958. Kịch này đã được Gia Đình Phật Tử Cầu Đất trình diễn mùa Xuân năm 1959.
Câu linh chú thứ năm (thuật ngữ) Đây là một lời trào phúng. Một vị hành giả cư sĩ có một bà vợ hơi khó tính, sau khi học hỏi về bốn câu linh chú (xem bốn câu linh chú) đã nói: “tôi cần có câu linh chú thứ năm mới có thể được yên nhà, yên cửa”. Đó là mỗi khi bà vợ nói gì thì anh ta nói: Vâng, em nói đúng (yes, madam).
Cây Anh Đào
(gia đình) Nhóm 16 vị cùng được xuất gia ngày 04 tháng 12 năm 1999 tại Làng Mai. Gia đình Cây Anh Đào gồm các thầy và các sư cô: Chân Quy Nghiêm, Chân Giác Nghiêm, Chân Pháp Lữ, Chân Pháp Duyên, Chân Khế Nghiêm, Chân Hội Nghiêm, Chân Đạo Nghiêm, Chân Độ Nghiêm, Chân Thành Nghiêm, Chân Pháp Cơ, Chân Pháp Tuệ, Chân Thệ Nghiêm, Chân Châu Nghiêm, Chân Hảo Nghiêm, Chân Pháp Vị, Chân Mẫn Nghiêm
Cây Bồ Công Anh (gia đình) Sư cô Chân Đoan Nghiêm, được xuất gia ngày 6 tháng 8 năm 1994 tại Làng Mai.
Cây Bồ Đề (gia đình) Thầy Chân Pháp Ấn, được xuất gia ngày 24 tháng 5 năm 1992 tại Làng Mai.
Cây Bông Sứ (gia đình) Nhóm 12 vị cùng được xuất gia ngày 18 tháng 05 năm 2000 tại Làng Mai. Gia đình Cây Bông Sứ  gồm các thầy và các sư cô: Chân Thông Nghiêm, Chân Quả Nghiêm, Chân Hộ Nghiêm, Chân Đẳng Nghiêm, Chân Thuận Nghiêm, Chân Pháp Cần, Chân Phụng Nghiêm, Chân Vĩnh Nghiêm, Chân Pháp Lĩnh, Chân Pháp Đôn, Chân Học Nghiêm, Chân Đạt Nghiêm.
Cây Bưởi (gia đình) Gồm thầy Chân Pháp Trí và sư cô Chân Thuần Nghiêm, cùng được xuất gia ngày 9 tháng 2 năm 1995 tại Làng Mai.
Cây Cam (gia đình) Nhóm 5 vị cùng được xuất gia ngày 16 tháng 12 năm 1996  tại Làng Mai. Gia đình Cây Cam gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Độ, Chân Pháp Khai, Chân Thiều Nghiêm, Chân Phúc Nghiêm, Chân Giới Nghiêm.
Cây Cẩm Lai (gia đình) Nhóm 4 vị cùng được xuất gia ngày 26 tháng 10 năm 2003 tại Làng Mai. Gia đình Cây Cẩm Lai gồm các thầy và các sư cô: Chân Đào Nghiêm, Chân Cúc Nghiêm, Chân Thăng Nghiêm, Chân Trân Nghiêm.
Cây Dâu Tây (gia đình)  Nhóm 5 vị cùng được xuất gia ngày 28 tháng 06 năm 2001 tại Làng Mai. Gia đình Cây Dâu Tây gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Lượng, Chân Hóa Nghiêm, Chân Pháp Lực, Chân Pháp Khí, Chân Mật Nghiêm.
Cây Dừa (gia đình)  Nhóm 5 vị cùng được xuất gia ngày 30 tháng 6 năm 1996 tại Làng Mai. Gia đình Cây Dừa gồm các thầy và các sư cô: Chân Thục Nghiêm, Chân Pháp Kiều, Chân Hà Nghiêm, Chân Pháp Hiền, Chân Hỷ Nghiêm.
Cây Đu Đủ (gia đình) Nhóm 10 vị cùng được xuất gia ngày 11 tháng 2 năm 2007 tại Làng Mai. Gia đình Cây Đu Đủ gồm các thầy và sư cô Chân Pháp Bản, Chân Pháp Khê, Chân Pháp Quang, Chân Pháp Mãn, Chân Nhẫn Nghiêm, Chân Pháp Khởi, Chân Pháp Địa, Chân Pháp Đồng, Chân Pháp Chu, Chân Pháp Siêu. 
Cây Hải Đường (gia đình) Nhóm 27 vị cùng được xuất gia ngày 10 tháng 05 năm 2006 tại tu viện Bát Nhã, Việt Nam. Gia đình Cây Hải Đường gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Cường, Chân Pháp Tầm, Chân Nội Nghiêm, Chân Đóa Nghiêm, Chân Tác Nghiêm, Chân Tinh Nghiêm, Chân Hiệu Nghiêm, Chân Chính Nghiêm, Chân Thuấn Nghiêm, Chân Quốc Nghiêm, Chân Pháp Nhiên, Chân Pháp Diệu, Chân Triển Nghiêm, Chân Pháp Hùng, Chân Kiều Nghiêm, Chân Áo Nghiêm, Chân Pháp Hào, Chân Nhạc Nghiêm, Chân Khả Nghiêm, Chân Phát Nghiêm, Chân Trạm Nghiêm, Chân Pháp Chủng, Chân Họa Nghiêm, Chân Tích Nghiêm, Chân Đán Nghiêm, Chân Pháp Phong, Chân Du Nghiêm.    
Cây Hồ Đào (gia đình)Nhóm 18 vị cùng được xuất gia ngày 08 tháng 02 năm 2003 tại Làng Mai. Gia đình Cây Hồ Đào gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Ngạn, Chân Pháp Chương, Chân Pháp Không, Chân Tùng Nghiêm, Chân Pháp Liệu, Chân Pháp Thanh, Chân Pháp Hộ, Chân Lăng Nghiêm, Chân Quỳnh Nghiêm, Chân Pháp Xả, Chân Pháp Tâm, Chân Pháp Duyệt, Chân Pháp Sỹ, Chân Pháp Bi, Chân Pháp Quán, Chân Pháp Hỷ, Chân Bách Nghiêm, Chân Hạc Nghiêm.
Cây Hồng Giòn (gia đình)  Nhóm 50 vị cùng được xuất gia ngày 08 tháng 01 năm 2006. Lễ truyền giới được tiến hành tại Làng Mai và truyền về tu viện Bát Nhã, Việt Nam qua mạng lưới Internet. Gia đình Cây Hồng Giòn gồm các thầy và các sư cô: Chân Khôi Nghiêm, Chân Pháp Thuyên, Chân Pháp Thượng, Chân Lĩnh Nghiêm, Chân Cảnh Nghiêm, Chân Pháp Hoan, Chân Pháp Hoằng, Chân Pháp Thái, Chân Ích Nghiêm, Chân Pháp Cứu, Chân Pháp Căn, Chân Pháp Sung, Chân Pháp Biện, Chân Pháp Tri, Chân Pháp Cao, Chân Cẩn Nghiêm, Chân Lý Nghiêm, Chân Sách Nghiêm, Chân Đan Nghiêm, Chân Đáo Nghiêm, Chân Lịch Nghiêm, Chân Ước Nghiêm, Chân Siêu Nghiêm, Chân Báo Nghiêm, Chân Luyện Nghiêm, Chân Pháp Thọ, Chân Pháp Bình, Chân Tuyết Nghiêm, Chân Duyên Nghiêm, Chân Băng Nghiêm, Chân Pháp Khuyến, Chân Pháp Tường, Chân Pháp Huấn, Chân Pháp Xứ, Chân Pháp Giao, Chân Pháp Năng, Chân Khương Nghiêm, Chân Khán Nghiêm, Chân Khoan Nghiêm, Chân Phương Nghiêm, Chân Cẩm Nghiêm, Chân Hy Nghiêm, Chân Thể Nghiêm, Chân Pháp Hưởng, Chân Pháp Hậu, Chân Pháp Hiến, Chân Pháp Cảm, Chân Pháp Thâm, Chân Quảng Nghiêm, Chân Lộc Nghiêm
Cây Hướng Dương (gia đình) Nhóm 76 vị cùng được xuất gia ngày 07 tháng 08 năm 2005. Lễ truyền giới được tiến hành tại Làng Mai, đồng thời truyền về tu viện Bát Nhã, Việt Nam qua mạng lưới Internet. Gia đình Cây Hướng Dương gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Kế, Chân Uyển Nghiêm, Chân Pháp Chúc, Chân Hạ Nghiêm, Chân Pháp Hy, Chân Thính Nghiêm, Chân Pháp Hoạt, Chân Mãn Nghiêm, Chân Kiện Nghiêm, Chân Lễ Nghiêm, Chân Pháp Dược, Chân Văn Nghiêm, Chân Trình Nghiêm, Chân Pháp Thiên, Chân Pháp Thừa, Chân Pháp Nhật, Chân Pháp Thăng, Chân Pháp Võng, Chân Khiết Nghiêm, Chân Pháp Xương, Chân Pháp Trung, Chân Pháp Cương, Chân Bội Nghiêm, Chân Pháp Ngọc, Chân Pháp Triệu, Chân Pháp Tánh, Chân Tráng Nghiêm, Chân Thức Nghiêm, Chân Pháp Lãm, Chân Pháp Lập, Chân Trực Nghiêm, Chân Trường Nghiêm, Chân Pháp Nhĩ, Chân Pháp Tân, Chân Pháp Ngưỡng, Chân Pháp Tư, Chân Pháp Tiên, Chân Pháp Tú, Chân Pháp Thủy, Chân Trú Nghiêm, Chân Tân Nghiêm, Chân Thùy Nghiêm, Chân Pháp Vĩnh, Chân Pháp Vượng, Chân Pháp Trọng, Chân Luật Nghiêm, Chân Pháp Nhiệm, Chân Thâm Nghiêm, Chân Pháp Cự, Chân Sắc Nghiêm, Chân Pháp Tại, Chân Thiền Nghiêm, Chân Pháp Nguyệt, Chân Pháp Thạch, Chân Pháp Tồn, Chân Pháp Túc, Chân Tri Nghiêm, Chân Doãn Nghiêm, Chân Triệu Nghiêm, Chân Pháp Thiệu, Chân Điển Nghiêm, Chân Thám Nghiêm, Chân Thánh Nghiêm, Chân Kiến Nghiêm, Chân Quyết Nghiêm, Chân Tông Nghiêm, Chân Tứ Nghiêm, Chân Hướng Nghiêm, Chân Xướng Nghiêm, Chân Đồng Nghiêm, Chân Khanh Nghiêm, Chân Triết Nghiêm, Chân Nhu Nghiêm, Chân Tuyền Nghiêm, Chân Pháp Ngôn, Chân Pháp Xa.
Cây Khế (gia đình)  Nhóm 4 vị cùng được xuất gia ngày 26 tháng 10 năm 1996 tại Làng Mai. Gia đình Cây Khế gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Thuận, Chân Thắng Nghiêm, Chân Tường Nghiêm, Chân Pháp Châu.
Cây Lê (gia đình) Nhóm 45 vị cùng được xuất gia ngày 17 tháng 2 năm 2008. Lễ truyền giới được tiến hành tại Làng Mai, đồng thời truyền qua mạng lưới Internet về tu viện Bát Nhã, Việt Nam. Gia đình Cây Lê gồm các thầy và các sư cô: Chân Duyệt Nghiêm, Chân Pháp Linh, Chân Hiến Nghiêm, Chân Pháp Diện, Chân Hài Nghiêm, Chân Sỹ Nghiêm, Chân Pháp Mật, Chân Xứ Nghiêm, Chân Pháp Nguyện, Chân Lực Nghiêm, Chân Xả Nghiêm, Chân Pháp Áo, Chân Biểu Nghiêm, Chân Diễn Nghiêm, Chân Pháp Cứ, Chân Cư Nghiêm, Chân Chỉnh Nghiêm, Chân Duy Nghiêm, Chân Dũng Nghiêm, Chân Diên Nghiêm, Chân Đạm Nghiêm, Chân Giản Nghiêm, Chân Hậu Nghiêm, Chân Pháp Ảnh, Chân Hào Nghiêm, Chân Hiểu Nghiêm, Chân Hữu Nghiêm, Chân Kế Nghiêm, Chân Pháp Chiêu, Chân Pháp Dũng, Chân Hoàng Nghiêm, Chân Hồi Nghiêm, Chân Lâm Nghiêm, Chân Pháp Dự, Chân Pháp Định, Chân Pháp Hàng, Chân Huy Nghiêm, Chân Pháp Khả, Chân Huấn Nghiêm, Chân Pháp Kim, Chân Pháp Khương, Chân Hiện Nghiêm, Chân Pháp Hoan, Chân Pháp Hương, Chân Pháp Lợi, Chân Pháp Lộc.
Cây Mãng Cầu (gia đình)  Nhóm 5 vị cùng được xuất gia ngày 17 tháng 11 năm 2004 tại Làng Mai. Gia đình Cây Mãng Cầu gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp An, Chân Tư Nghiêm, Chân Kỳ Nghiêm, Chân Pháp Tuấn, Chân Trí Nghiêm.
Cây Mộc Lan
(gia đình)  Nhóm 4 vị cùng được xuất gia ngày 23 tháng 03 năm 1999 tại Làng Mai, gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Hưng, Chân Lệ Nghiêm, Chân Pháp Bảo, Chân Hòa Nghiêm.
Cây Olive (gia đình)  Nhóm 5 vị cùng được xuất gia ngày 30 tháng 08 năm 2004 tại Làng Mai. Gia đình Cây Olive gồm các thầy và các sư cô: Chân Song Nghiêm, Chân Pháp Sinh, Chân Pháp Tuyên, Chân Như Nghiêm, Chân Triêu Nghiêm.
Cây Phong (gia đình)  Nhóm 5 vị cùng được xuất gia ngày 09 tháng 08 năm 1998 tại Làng Mai. Gia đình Cây Phong gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Viên, Chân Tố Nghiêm, Chân Tú Nghiêm, Chân Xuân Nghiêm, Chân Tín Nghiêm.
Cây Phượng (gia đình) Nhóm 4 vị cùng được xuất gia ngày 08 tháng 11 năm 1997 tại chùa Key West tiểu bang Florida nước Mỹ. Gia đình Cây Phượng gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Ân, Chân Hằng Nghiêm, Chân Pháp Lạc, Chân Uy Nghiêm.
Cây Sồi (gia đình)  Nhóm 5 vị cùng được xuất gia ngày 3 tháng 8 năm 1994 tại Làng Mai. Gia đình cây Sồi gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Niệm, Chân Giải Nghiêm, Chân Pháp Cảnh, Chân Pháp Trú, Chân Khai Nghiêm.
Cây Quế (gia đình) Nhóm 9 vị cùng được xuất gia ngày 13 tháng 12 năm 2003 tại Làng Mai. Gia đình Cây Quế gồm các thầy và các sư cô: Chân Đắc Nghiêm, Chân Pháp Vũ, Chân Pháp Trì, Chân Thư Nghiêm, Chân Pháp Lưu, Chân Pháp Tụ, Chân Pháp Cầu, Chân Uyên Nghiêm, Chân Phùng Nghiêm.
Cây Quỳnh Hương (gia đình) Gồm 2 sư cô Chân Hoa Nghiêm và Chân Từ Nghiêm cùng được xuất gia ngày 26 tháng 1 năm 1991 tại Làng Mai.
Cây Sung (gia đình) Nhóm 7 vị cùng được xuất gia ngày 26 tháng 10 năm 1998 tại Làng Mai. Gia đình Cây Sung gồm các thầy và các sư cô: Chân Y Nghiêm, Chân Pháp Minh, Chân Anh Nghiêm, Chân Thường Nghiêm, Chân Lương Nghiêm, Chân Pháp Ngộ, Chân Quang Nghiêm.
Cây Táo (gia đình)  Nhóm 9 vị cùng được xuất gia ngày 04 tháng 02 năm 1998 tại Làng Mai. Gia đình Cây Táo gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Khâm, Chân Linh Nghiêm, Chân Bi Nghiêm, Chân Pháp Dung, Chân Khánh Nghiêm, Chân Huyền Nghiêm, Chân Hân Nghiêm, Chân Pháp Nguyên, Chân Kính Nghiêm.
Cây Thốt Nốt (gia đình) Nhóm 21 vị cùng được xuất gia ngày 07 tháng 02 năm 2002 tại Làng Mai. Gia đình Cây Thốt Nốt gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Khôi, Chân Cơ Nghiêm, Chân Doanh Nghiêm, Chân Cần Nghiêm, Chân Chỉ Nghiêm, Chân Pháp Điền, Chân Thịnh Nghiêm, Chân Pháp Luân, Chân Pháp Nhẫn, Chân Cung Nghiêm, Chân Thi Nghiêm, Chân Pháp Thân, Chân Thần Nghiêm, Chân Pháp Tự, Chân Pháp Môn, Chân Pháp Hiển, Chân Việt Nghiêm, Chân Nho Nghiêm, Chân Pháp Chiếu, Chân Đàn Nghiêm, Chân Pháp Hữu.
Cây Trà My (gia đình) Nhóm 9 vị cùng được xuất gia ngày 12 tháng 02 năm 2001 tại Làng Mai. Gia đình Cây Trà My gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Chuyên, Chân Pháp Vinh, Chân Túc Nghiêm, Chân Pháp Trạch, Chân Quý Nghiêm, Chân Pháp Huy, Chân Cát Nghiêm, Chân Hành Nghiêm, Chân Pháp Duệ.
Cây Trầm Hương (gia đình) Nhóm 77 vị cùng được xuất gia ngày 3 tháng 3 năm 2007 tại tu viện Bát Nhã, Việt Nam. Gia đình Cây Trầm Hương gồm các thầy và các sư cô: Chân Chiếu Nghiêm, Chân Pháp Cẩn, Chân Pháp Công, Chân Quế Nghiêm, Chân Phẩm Nghiêm, Chân Pháp Cử, Chân Pháp Chí, Chân Pháp Chứng, Chân Chương Nghiêm, Chân Minh Nghiêm, Chân Pháp Diễn, Chân Pháp Dương, Chân Quán Nghiêm, Chân Dụng Nghiêm, Chân Nghĩa Nghiêm, Chân Pháp Duy, Chân Nhãn Nghiêm, Chân Tiên Nghiêm, Chân Hiển Nghiêm, Chân Tuấn Nghiêm, Chân Khoa Nghiêm, Chân Thúy Nghiêm, Chân Tuyển Nghiêm, Chân Đài Nghiêm, Chân Thuyết Nghiêm, Chân Pháp Đài, Chân Tĩnh Nghiêm, Chân Thượng Nghiêm, Chân Hưng Nghiêm, Chân Viên Nghiêm, Chân Nhuận Nghiêm, Chân Pháp Đế, Chân Pháp Điều, Chân Pháp Đường, Chân Pháp Giải, Chân Xứng Nghiêm, Chân Hải Nghiêm, Chân Tựu Nghiêm, Chân Lạc Nghiêm, Chân Pháp Hảo, Chân Pháp Hoàn, Chân Vinh Nghiêm, Chân Hoằng Nghiêm, Chân Tạng Nghiêm, Chân Liên Nghiêm, Chân Lập Nghiêm, Chân Truyền Nghiêm, Chân Chung Nghiêm, Chân Huân Nghiêm, Chân Lưu Nghiêm, Chân Pháp Hiên, Chân Pháp Hoạch, Chân Khuyến Nghiêm, Chân Liệu Nghiêm, Chân Toàn Nghiêm, Chân Đăng Nghiêm, Chân Lãm Nghiêm, Chân Thuyên Nghiêm, Chân Huệ Nghiêm, Chân Pháp Hiện, Chân Lữ Nghiêm, Chân Nhiếp Nghiêm, Chân Ngộ Nghiêm, Chân Chúc Nghiêm, Chân Ngọc Nghiêm, Chân Luận Nghiêm, Chân Pháp Hợp, Chân Phượng Nghiêm, Chân Hoạt Nghiêm, Chân Tiếp Nghiêm, Chân Năng Nghiêm, Chân Nguyệt Nghiêm, Chân Pháp Khoa, Chân Trọng Nghiêm, Chân Tiến Nghiêm, Chân Toại Nghiêm, Chân Tùy Nghiêm.
Cây Trúc (gia đình) Gồm các thầy Chân Pháp Thông, Chân Pháp Hòa, Chân Pháp Nghĩa cùng được xuất gia ngày 12 tháng 5 năm 1998 tại Làng Mai.
Cây Tùng (gia đình) Nhóm 4 vị cùng được xuất gia ngày 07 tháng 2 năm 1997 tại Làng Mai, gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Sơn, Chân Pháp Kiên, Chân Pháp Hải, Chân Pháp Hội.
Cây Vô Ưu (gia đình) Nhóm 13 vị cùng được xuất gia ngày 07 tháng 07 năm 2003. Lễ truyền giới được tiến hành tại Làng Mai, đồng thời truyền qua mạng lưới Internet về Việt Nam. Gia đình Cây Vô Ưu gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Đệ, Chân Pháp Tập, Chân Lan Nghiêm, Chân Pháp Quang, Chân Thái Nghiêm, Chân Pháp Tịnh, Chân Khải Nghiêm, Chân Pháp Ngữ, Chân Khuê Nghiêm, Chân Pháp Lâm, Chân Pháp Toàn, Chân Bối Nghiêm, Chân Pháp Huân.


Cây Vú Sữa (gia đình) Nhóm 19 vị cùng được xuất gia ngày 01 tháng 02 năm 2005 tại Việt Nam, trong khóa tu tăng ni tại chùa Hoằng Pháp, Hóc môn. Gia đình Cây Vú Sữa gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Nhã, Chân Sùng Nghiêm, Chân Pháp Toại, Chân Tánh Nghiêm, Chân Thẩm Nghiêm, Chân Phổ Nghiêm, Chân Pháp Ninh, Chân Pháp Chung, Chân Mặc Nghiêm, Chân Ứng Nghiêm, Chân Tập Nghiêm, Chân Giai Nghiêm, Chân Chí Nghiêm, Chân Mỹ Nghiêm, Chân Dung Nghiêm, Chân Tôn Nghiêm, Chân Duệ Nghiêm, Chân Pháp Anh, Chân Thao Nghiêm.


 

Cây Xoài (gia đình) Gồm sư cô Chân Trung Nghiêm, Chân Nhã Nghiêm và thầy Chân Pháp Âm cùng được xuất gia ngày 27 tháng 7 năm 1999 tại Làng Mai.
Cây Xoan (gia đình) Nhóm 12 vị cùng được xuất gia ngày 26 tháng 05 năm 2002 tại Làng Mai. Gia đình Cây Xoan gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Lộ, Chân Gia Nghiêm, Chân Liễu Nghiêm, Chân Hồng Nghiêm, Chân Trúc Nghiêm, Chân Pháp Lai, Chân Hiền Nghiêm, Chân Thanh Nghiêm, Chân Pháp Uyển, Chân Pháp Hành, Chân Trang Nghiêm, Chân Mai Nghiêm.
Chánh niệm
(thuật ngữ, phép tu) Năng lượng giúp ta có mặt thật sự trong giây phút hiện tại và nhận diện được những gì đang xảy ra tại đây trong giây phút ấy. Năng lượng này nếu được duy trì sẽ làm phát sinh ra năng lượng chuyên chú, tập trung của tâm ý vào một đối tượng được lựa chọn, gọi là chánh định. Năng lượng chánh định nếu đủ hùng hậu sẽ giúp ta khám phá được thực chất của đối tượng kia, gọi là tuệ. Niệm, định và tuệ là ba năng lượng được chế tác trong khi tu tập. Chánh niệm được chế tác không những trong thời gian thực tập thiền ngồi, thiền đi, mà còn được chế tác trong bất cứ sinh hoạt nào của đời sống hàng ngày như tưới rau, rửa bát, giặt áo, nấu cơm, lái xe, lau nhà, ăn cơm, uống nước, làm việc, trong cả bốn tư thế đi, đứng, nằm và ngồi. Có năng lượng chánh niệm ta thật sự có mặt trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày và sống được sâu sắc những giây phút ấy. Chánh niệm giúp ta tiếp xúc được với những gì mầu nhiệm trong ta và chung quanh ta, những gì có khả năng nuôi dưỡng, trị liệu và chuyển hóa. Chánh niệm cũng giúp ta nhận diện và ôm ấp những niềm đau trong ta, để ta có thể làm vơi nhẹ chúng, và cùng với chánh định, giúp ta nhìn sâu vào thực chất của niềm đau để thấy được gốc nguồn của nó và do đó chuyển hóa được niềm đau. Chánh niệm là trái tim của thiền tập. Chữ Phạn là Smrti, chữ Pali là Sati, dịch sang tiếng Pháp là la pleine conscience, tiếng Anh là mindfulness, tiếng Đức là achksamkeit. Kinh căn bản dạy về chánh niệm là kinh Niệm Xứ, Satipatthana sutta.
Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện (sách) Một tập thơ của Thầy Làng Mai do nhà Lá Bối, Sài Gòn ấn hành năm 1965, họa sĩ Hiếu Đệ trình bày bìa. Tập thơ này khi đưa lên kiểm duyệt đã bị bỏ chỉ còn hai bài, sau đó được in chui không có giấy phép. Tập thơ có nhiều bài được gọi là thơ phản chiến (anti-war poetry) vì diễn tả được nỗi khổ đau của chiến tranh và ước vọng hòa bình của dân chúng. Trong khi bị cảnh sát của chế độ Sài Gòn tịch thu, sách này cũng bị các đài phát thanh Bắc Kinh và Hà Nội công kích.
Chắp tay trong chánh niệm (phép tu)  Gặp nhau trong khuôn viên Làng Mai, ta chắp tay xá nhau trong chánh niệm. Chắp hai tay lên thành búp sen, ta thầm niệm “Sen búp xin tặng người”. Cúi xuống trước người đối diện, ta thầm niệm “Một vị Bụt tương lai”. Ta làm động tác này với tất cả sự cung kính, dù là với một em bé, bởi vì em bé cũng có tính Bụt trong tâm. Chắp tay và xá như thế, ta tiếp xúc được với Phật tính trong ta và trong người đối diện, đồng thời ta cũng giúp người ấy làm như thế. Đây không phải là lễ nghi ước lệ mà là một sự thực tập.
Chân An Hải
(tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Ger Levert. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm tháng 1 năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa với bài kệ truyền đăng như sau: Trăng rằm mỉm nụ bình an. Hải triều vọng tiếng hân hoan đón mời. Xuân về liễu biếc hoa tươi.Biển xanh sóng lặng ra khơi thuyền từ.
Chân An Hành (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Sue Bridge. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 1 năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau: An nhiên trên nẻo thiền Hành. Mây hồng mời gọi trời xanh đón chào. Đêm nay mở hội ngàn sao. Trăng đi theo nước cùng vào đại dương.
Chân An Nguyên (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Marjolijn Van Leeuwen. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 1 năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau: An vui tìm lại uyên Nguyên. Trăng treo lối cũ về miền thảnh thơi. Ngựa ăn cỏ tuyết trên đồi. Mài gươm bên suối, tiếng cười âm vang.
Chân An Niệm (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên khai sinh là Ernestine Enomoto. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 1 năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau: Bước chân thuần nhất trong An Niệm. Đầu ngõ tan sương nguyệt sáng lòa. Túc trái tiền oan rơi rụng hết. Một vùng mây nước đẹp bao la.
Chân An Quang (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Rochelle Griffin. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 11 năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau: An trú nơi hiện pháp. Quang minh chiếu đại thiên. Lắng nghe đời than thở. Từ ái tỏa chân thiền.
Chân An Thừa (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Jan Boswijk. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 11 năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau: Bước đi từng bước chân An lạc. Thượng Thừa mở lối tới đài sen. Khúc hát mùa xuân vang bất tuyệt. Hào quang đại địa chiếu tam thiên.
Chân Ấn Đức (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Charles Al Lingo. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm tháng 1 năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa với bài kệ truyền đăng như sau: Diệu trì hiện nguyệt ấn. Đức cảnh lộ chân nhân. Thù đồ quy nhất điểm .Giới định dĩ nghiêm thân.
Chân Bản Nguyên (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Peggy Rowe. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 12 năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau: Bản môn nở giữa lòng sen thắm. Nguyên vẹn trăng thề trải mấy thu. Tuyết chở sương che tường giới định. Hoa đào năm ngoái thắm như xưa.
Chân Bảo (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ tên Reed Caitriona. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 trong đại giới đàn Cam Lộ với bài kệ truyền đăng như sau: Chân tăng ở khắp chốn. Bảo sát tại trong lòng. Nụ cười vừa nhẹ chớm. Thanh thoát khoảng trời trong.
Chân Bảo Bi (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Seija Mauro. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm tháng 1 năm 2008 với bài kệ truyền đăng như sau: Tìm thấy bảo châu trong vạt áo. Trái tim bi nguyện vẫn còn nguyên. Sáu chiếc tay chèo theo nhịp sóng. Đèn tâm tiếp nối lửa chân truyền.
Chân Bảo Châu (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Patricia Hunt-Perry. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 12 năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau: Bảo kiếm trao tay một sáng thu. Châu về hợp phố thỏa nguyền xưa. Rừng tía bụi hồng nay đã một. Giang đầu liễu gọi có oanh thưa.
Chân Bảo Địa (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Shalom. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 2 năm 2004 trong đại giới đàn Lâm Tế với bài kệ truyền đăng như sau: Hạt giống gieo trồng nơi Bảo Địa. Đây rồi cơ hội thấm mưa Xuân. Ngày đêm an trú trong địa xúc. Khắp miền hoa nở sáng chân tâm.
Chân Bảo Niệm (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Cheryll Ann Maples. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm tháng 1 năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa với bài kệ truyền đăng như sau:Tam bảo nương vào chuyên nhất niệm. Hành trì giới định đạt tâm an. Vườn xưa đào lý đua nhau nở. Dấu chân đại sĩ vẫn chưa mòn.
Chân Bảo Thể (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Ilona Schmied. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 11 năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau: Lên chơi ngọn bảo sơn. Tìm ra nguồn chân Thể. Hai tay ôm mây hồng. Hát ca mừng nhân thế.
Chân Bảo Tích (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, pháp danh Tâm Cao Phong, tên Thân Trọng Nguyên. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 1 năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau: Mỗi bước đưa về kho Bảo Tích. Nương hơi thở nhẹ tới Lam điền. Sáng nay nghe tiếng hoàng oanh gọi. Thông rung trống kệ, hải triều lên.
Chân Bi Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Johnson Wendy. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 trong đại giới đàn Cam Lộ với bài kệ truyền đăng như sau: Chân tính luôn từ ái. Bi Nghiêm hạnh nguyện đầu. Chốn kỳ viên chăm sóc. Xanh tốt vạn đời sau.
Chân Bi Tu (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Eevi Elizabeth Beck. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm tháng 1 năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa với bài kệ truyền đăng như sau: Pháp môn hé cánh từ bi. Công phu tu luyện độ trì nhân gian. Giới hương tỏa ngát hoa Đàm. Mây bay đầu ngõ, sương tan cuối trời
Chân Bồ Đề (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Văn Minh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 12 năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau: Chân tâm gốc rễ vẫn tài bồi. Bóng mát bồ đề rợp khắp nơi. Then cửa nhiệm màu tay nắm giữ. Nhìn trong hiện pháp thấy tương lai.
Chân Cảm Ứng (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Karl Riedl. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 8 năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau: Chân tu tạo chân lực. Cảm Ứng xuất vạn năng. Trí bi tráp lưỡng dực. Bằng trình siêu vạn tầm.
Chân Cơ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Trịnh Đình Tấn. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài kệ truyền đăng như sau: Chân ý ngàn đời vẫn sáng trong. Cơ duyên đốn ngộ ở ngay lòng. Một thấy trời cao lồng lộng sáng. Tha hồ mây bạc cứ thong dong.
Chân Diệu Từ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Helga Riedl. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 8 năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau: Chân niệm thường an trú. Diệu Từ là nguồn vui. Hạt xuân gieo bất tận. Hoa nở độ muôn tên gọi.
Chân Diệu Ý (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Silvia Lombardi. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2006 trong đại giới đàn Văn Lang với bài kệ truyền đăng như sau: Chân như tìm diệu ý. Lắng nghe tiếng hải triều. Dựng xây tình huynh đệ. Đồi thế kỷ cùng leo.
Chân Đắc (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Kotler Arnold, thực tập pháp môn của Làng Mai và đã được Thầy Làng Mai truyền đăng phó pháp năm 1990 với bài kệ truyền đăng như sau: Chân tông không Bắc cũng không Nam. Đắc pháp truyền tâm thánh chuyển phàm. Thông điệp từ bi về vạn nẻo. Nối liền Tịnh Độ với nhân gian.
Chân Đại Âm (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Larry Ward. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 12 năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau: Đại cổ vừa rung tiếng sấm ran. Âm thanh chấn động ánh trăng vàng. Bốn phương chiếu dụng tâm thuần nhất. Tiếng cầm tiếng sắt vẫn hiên ngang.
Chân Đại Đồng (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Manfred Folkers. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 11 năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau: Đại địa trình kiến giải. Đồng tâm mạch sống dâng. Bảo tháp Như Lai hiện. Năm sắc chói tường vân.
Chân Đại Kiều (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Lisi Hà Vĩnh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 12 năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau: Đại nghĩa xưa nay vững một lòng. Vượt muôn Kiều lộ bước thong dong. Hành vân lưu thủy chân thường tại. Hát khúc vô sinh mỗi sáng hồng.
Chân Đại Tập (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Murray Corke. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 11 năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau: Đại hành vừa chuyển pháp luân. Năm châu vân tập xa gần ngợi khen. Thiền ca một khúc tấu lên. Địa cầu chấn động, chư thiên chúc mừng.
Chân Đại Tuệ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Hà Vĩnh Thọ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 12 năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau: Chí lớn nam nhi hướng đại đồng. Tài bồi Tuệ nghiệp rạng tông phong. Lòng đất hạt thương lên tiếng gọi. Rực rỡ hoa đào đón gió đông.
Chân Đại Ứng
(tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Jerry Brazza. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 12 năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau: Đại bi suối ấy đã lên đường. Ứng hiện muôn ngày ức hóa thân. Dạt dào thấm nhuận cơn mưa pháp. Đất lành gieo mãi hạt yêu thương.
Chân Đại Ý (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Stefano Carboni. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2006 trong đại giới đàn Văn Lang với bài kệ truyền đăng như sau: Huyền môn trình đại ý. Diệu pháp đã lên đường. Đông Tây vốn là một. Mở lối Hiểu và Thương.
Chân Đăng (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Kiera Eileen. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài kệ truyền đăng như sau: Chân tính nào đâu có bớt thêm. Đăng tâm nối sáng lửa chân truyền. Biển Đông một sáng bừng trang sử. Mặt trời trí tuệ chiếu tam thiên.
Chân Đạo (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Jean-Pierre Maradan. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 8 năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau: Chân tướng vốn là vô tướng. Đạo mầu trăng dạo thái không. Chim hót vọng từ đỉnh núi. Thông reo pháp diễn diệu âm.
Chân Đạo Hành (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, pháp danh Tâm Vô Tướng, tên Hoàng Khôi. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 1 năm 2003 với bài kệ truyền đăng như sau: Đạo xưa tìm thấy nẻo vô Hành. Thanh khí tương tầm dặm liễu xanh. Hoa đào suối cũ còn nguyên đó. Ngửng đầu bắt gặp ánh trăng thanh.
Chân Đạo Trị (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nam, tên George Giroud. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1996 trong đại giới đàn Nến Ngọc với bài kệ truyền đăng như sau: Đạo tâm khơi mở nguồn an lạc. Trị thế không ngoài hiểu với thương. Tiếp nối đèn tâm truyền pháp lạc. Soi chiếu ngày mai lối tỏ tường.
Chân Đạt (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Hữu Chí. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 8 năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau: Chân tính luôn có mặt. Đạt ngộ trong tầm tay. Ngồi yên vững như núi. Ngoài kia trăng sáng đầy.
Chân Định Trú (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Joseph Emet. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 1 năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau: Về đây ổn Định tâm ta. Về đây an Trú một nhà tăng thân. Đếm chi số cát sông Hằng. Triều âm đã động, chim bằng tung mây.
Chân Đức(tên gọi).Xem Đức NghiêmChân Đức Âm (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Lê Phương Chi. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 1 năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau: Hãy lắng lòng nghe khúc Đức Âm. Hải triều xô vỡ khối trần tâm. Bụi hồng khép lại sau khung cửa. Rừng tía đây rồi hiện pháp thân. Xem thêm Song Nghiêm.
Chân Đức Nhãn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Chung Minh Fei. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 1 năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau: Đức hậu đương xuân phương thảo thịnh. Nhãn minh vô xứ bất tri huyền. Dạ quang nguyệt sắc vô nhân tảo. Nhất kiến đào hoa sự lý thuyên.
Chân Đức Từ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Brendan Sillifant. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 1 năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau: Non cao lập Đức càng cao. Biển sâu Từ ái không đào cũng sâu. Phút giây hiện tại nhiệm màu. Uổng công tìm kiếm nơi đâu nhọc lòng?
Chân Giác Hoa (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Jane Coates Worth. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 11 năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau: Giác Hoa nở khắp mọi miền. Thênh thang gió đẩy hương thiền xa bay. Tăng thân tụ hội đông đầy. Phật tâm nam bắc xưa nay vẫn đồng.
Chân Giác Thọ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Bettina Romhardt. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 11 năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau: Giác Thọ dâng hoa trái. Gốc rễ càng vững bền. Dòng thiêng còn tiếp nối. Khí hùng lực vô biên.
Chân Giải Thoát (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Schaibly Robert. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 trong đại giới đàn Cam Lộ với bài kệ truyền đăng như sau: Chân đạo từ tâm tỏ. Giải Thoát cảnh hiện tiền. Sóng sinh tử vừa lặn. Trăng sáng rọi ngoài hiên.
Chân Giới Hương (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Annabelle Zinser. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 11 năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau: Thiền duyệt tâm thành đốt Giới Hương. Lửa hồng bếp cũ ấm hơi sương. Hồng chung ngân rã trần gian mộng. Muôn hướng về chung một nẻo đường.
Chân Hành Trì (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Travis Masch. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 1 năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau: Vững tin nơi pháp Hành Trì. Nước non đá tạc vàng ghi có ngày. Hỏi thăm những nước cùng mây. Lời lời châu ngọc giải bày thế gian.
Chân Hảo (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Đào Như Tuyền. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 8 năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau: Chân và tục hai đế. Hảo tướng thường viên dung. Từng bước trên đất thật. Pháp giới sáng vô cùng.
Chân Hiện Quán (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Trung Quân. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 2 năm 2004 trong đại giới đàn Lâm Tế với bài kệ truyền đăng như sau: Phút giây Hiện tại vừa tham Quán. Trăng thu đã dọi sáng bên thềm. Bài hát bản môn tuôn bất tuyệt. Vườn xưa đào lý nở trang nghiêm.
Chân Hòa (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Eveline Beumkes. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 8 năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau: Chân tăng là vùng nương náu. Hòa bình tỏa rạng mai sau. Đại bàng xòe hai cánh rộng. Bóng che mát quả địa cầu.
Chân Học (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Martin Pitt. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 8 năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau: Chân pháp duy thân chứng. Học đạo cần nhất tâm. Rừng thiền muôn chim hót. Hoa nở hiện chân nhân.
Chân Hộ Tăng (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ tên Pritam Signh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 2 năm 2004 trong đại giới đàn Lâm Tế với bài kệ truyền đăng như sau: Nguyền xưa bảo Hộ Tăng thân. Trời xưa đã sáng hương trầm nhẹ bay. Biển xưa chẳng có vơi đầy. Vườn xưa xanh tốt hạt cây nảy mầm.
Chân Hội (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Tấn Hồng. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài kệ truyền đăng như sau: Chân lý trao truyền qua ngõ tâm. Hội giải siêu nhiên vượt dị đồng. Hạt giống bồ đề gieo rải khắp. Ngại gì hai nẻo sắc và không.
Chân Huy (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Trần Minh Dũng. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 8 năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau: Chân tâm một biểu lộ. Pháp giới sẽ quang Huy. Tuệ nhật chiếu thật địa. Thong dong từng bước đi.
Chân Huyền (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Hà Dương Đỗ Quyên. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 1 năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau: Chân pháp vang rền tiếng diệu âm. Huyền cơ soi thấu khối sơ tâm. Một buông pháp giới bừng hương sắc. Linh Thứu tuy xa cũng thật gần.
Chân Hương Sơn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Ann Johnston. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 2 năm 2004 trong đại giới đàn Lâm Tế với bài kệ truyền đăng như sau: Vầng trăng trên biển bạc. Đã về ngự Hương Sơn. Sóng không sinh chẳng diệt. Mưa biển lại về nguồn.
Chân Hướng (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Lawler John Joseph. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 trong đại giới đàn Cam Lộ với bài kệ truyền đăng như sau: Chân nhân thường đối diện. Một Hướng nẻo đại đồng. Nắm tay nhau cùng bước. Khúc hát trời rạng đông.
Chân Hữu (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Gia Nam. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 1 năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau: Chân Hữu là đây một cánh tay. Tình sông nghĩa biển lượng đong đầy. Dậu thu vừa nảy dò sương ấy. Thiền trà hương ngát chén hồng mai.
Chân Hỷ Căn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nongluck Somri. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2006 trong đại giới đàn Văn Lang với bài kệ truyền đăng như sau: Thực tập từ bi nuôi hỷ xả. Hành trì định tuệ nối căn duyên. Hơi thở bước chân tròn chánh niệm. Pháp thân sáng rỡ nối chân truyền.
Chân Khai (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Laurie Lawlor. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 12 năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau: Chân tình tô thắm nước cùng mây. Khai bút trời xuân hương thắm bay. Tuổi ngọc thấm nhuần ơn giáo dưỡng. Pháp thân tỏa chiếu nước non này.
Chân Không (tên gọi) Xem Không Nghiêm.
Chân Kính (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên David Dimack. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 1 năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau: Chân như trúc tím hoa vàng. Thủy chung một niệm muôn vàn Kính thương. Sao mai vừa hiện tỏ tường. Ý đầu tâm hợp muôn phương thái hòa.
Chân Lương (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, pháp danh Tâm Chất, tên Nguyễn Bạch Mai. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 8 năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau: Chân pháp một lần khám phá. Lương y sẵn có trong nhà. Đạt tới mùa xuân chuyển hóa. Công phu chỉ tại lòng ta.
Chân Lượng (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Fred Eppsteiner. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 8 năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau: Chân quán luyện thành ngọc báu. Lượng từ che chở cho nhau. Cánh cửa vô sinh đã hé. Nhất tâm thành tựu đạo màu.
Chân Minh Đăng (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Hữu Xương. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 12 năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau: Minh châu vạt áo đẹp tinh khôi. Đăng hòa mười năm đã sáng trời. Cơ nghiệp tổ tiên cùng dựng lại. Vườn xưa đào lý vẫn xinh tươi.
Chân Minh Đức (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Trần Kim Quế. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 12 năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau: Minh thấy vô minh chúm chím cười. Ðức nhà phân phát đủ muôn nơi. Huệ lan sực nức vườn xuân mới. Bước chân đem tới một trời vui.
Chân Minh Trí (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Hồ Văn Quyền. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 12 năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau: Đông sơn vừa lộ ánh quang minh. Trí đã bừng câu tráng sĩ hành. Khánh bạc chuông vàng phương tiện cũ. Đường mây cao vút cánh chim xanh.
Chân Minh Tuệ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Viên. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 12 năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau: Quang Minh vầng nhật chiếu trời sương. Trí tuệ bừng lên tỏ ngọn nguồn. Diệu khúc muôn đời nên cử xướng. Đường về quê cũ rạng yêu thương.
Chân Môn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Svein Myreng. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 8 năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau: Chân nghĩa hùng lực lớn. Môn lưu ngàn thuở truyền. Thân và tâm nhất quán. Diệu pháp thường có duyên.
Chân Mỹ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Thị Tuyết Mai. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 12 năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau: Chân như cười nhẹ khung trời nắng. Mỹ diệu trăng lồng một biển thu. Mây trắng đường xưa luôn biểu hiện. Lối về quê cũ đẹp như thơ.
Chân Ngộ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Duy Vinh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 8 năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau: Chân nhân trước mặt cười không nói. Ngộ đạo ngồi nhìn mây trắng bay. Trúc tím hoa vàng bày diệu hữu. Trăng trong mây bạc vẫn còn đây.
Chân Nguyên (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Cynthia Jurs. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 8 năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau: Chân giác không ngoài cõi diệu tâm. Nguyên lưu vằng vặc ánh trăng rằm. Lắng nghe được tiếng hoa đào nở. Sẽ thấy trần gian Bụt giáng lâm.
Chân Nguyện (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Công Huyền Tôn Nữ Huyền Châu. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 8 năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau: Chân giải ý thâm diệu. Nguyện phát túc siêu phương. Cước lập bản môn địa. Ưng liễu thế vô thường. Xem thêm Quy Nghiêm.


 

Chân Nguyệt Quang (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Claudia Weiland. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 8 năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau: Chân nhật phá mây sầu ám. Nguyệt Quang tiếp xúc địa cầu. Tăng thân bước về một hướng. Ngàn đời ta vẫn còn nhau.
Chân Nguyệt Tâm (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Terry Barber. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm tháng 1 năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau: Lung linh bóng Nguyệt soi thềm. Cõi Tâm mở sáng đêm đêm ngân hà. Nhiệm mầu tiếng hạc bay qua. Vén mây trông rõ phá tòa nguyên sơ.
Chân Nghĩa (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, pháp danh Tâm Khai Ngộ, tên Lê Văn Đán. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 1 năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau: Chân Nghĩa thượng thừa mong liễu ngộ. Thiền trà nên cạn chén hồng mai. Long lanh đáy nước trăng vàng chiếu. Một thiên tuyệt bút để dành ai.
Chân Pháp
(tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Peen Kristen. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 trong đại giới đàn Cam Lộ với bài kệ truyền đăng như sau: Chân tính không sinh diệt. Pháp giới vẫn hiện tiền. Nước cam lồ một giọt. Rửa sạch mọi tiền khiên.
Chân Pháp Kiều (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Richard Brady. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 12 năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau: Mưa pháp thấm nhuần cõi đất tâm. Đại Kiều mong nối lại tình thâm. Một sân hòe quế ngày chăm bón. Sạch hết bao nhiêu lớp cát lầm.
Chân Pháp Lực (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Rowan Conrad. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 11 năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau: Tương thử sơ tâm chân Pháp Lực. Tiếp độ lục đạo chư quần mê. Chưởng thượng minh châu thường quảng nhiếp. Năng linh u xứ hướng bồ đề.
Chân Pháp Nhãn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Karl Schmied. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài kệ truyền đăng như sau: Chân quán vừa tùy thuận. Pháp Nhãn đã trao truyền. Trên đường về tự tại. Cười dứt vạn trần duyên.
Chân Quang (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Therese Fitzgerald. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 8 năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau: Chân tính vốn là ánh sáng. Quang minh soi chiếu tỏ tường. Đất tâm gieo hạt giống quý. Hoa đàm nở ngát mười phương.
Chân Quang Đạo (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên John Bartrong đại giới đàn Cam Lộays. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 2 năm 2004 trong đại giới đàn Lâm Tế với bài kệ truyền đăng như sau: Hào Quang sáng tỏ ngời chân Đạo. Hàng vạn bông hoa ngoảnh mặt nhìn. Từng bước thảnh thơi trên cõi Tịnh. Từng hơi thở nhẹ chở niềm tin.
Chân Quang Lâm (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, pháp danh Firm Virtue of the Source, tên Tony Mills. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 2 năm 2004 trong đại giới đàn Lâm Tế với bài kệ truyền đăng như sau: Quang minh vầng nguyệt chiếu Lâm tuyền. Lặng lẽ tinh cầu quán đại thiên. Cát tường nở trắng bông tinh khiết. Thế giới ba ngàn đứng lặng yên.
Chân Quả (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nora Houtmann De Graaf. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 trong đại giới đàn Cam Lộ với bài kệ truyền đăng như sau: Chân tính không sinh diệt. Quả báo trong tầm tay. Không đi cũng không tới. Cõi tâm trăng sáng đầy.
Chân Sắc (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Bossert Judith. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài kệ truyền đăng như sau: Chân nguyên nước tĩnh tưới trần gian. Sắc khác gì không, pháp bảo đàn. Gió sớm mây hồng tuyên Bát Nhã. Hoa cười ngọc thốt vẫn đoan trang.
Chân Sinh (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Hoàng Phúc. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 8 năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau: Chân như là bản môn. Sinh diệt nào động tới? Thức dậy sớm mai hồng. An nhiên không chờ đợi.
Chân Thành Tựu (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Marcel Geisser. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 8 năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau: Chân pháp chỉ là một. Thành Tựu có muôn đường. Tâm từ trùm pháp giới. Gia nghiệp khéo thừa đương.
Chân Thâm Hạnh
(tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Marc Puissant. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 1 năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau: Chân kinh hàm chứa nghĩa cao Thâm. Hạnh giải vang lừng khúc phạm âm. Biển khổ thuyền từ dong một lá. Nhờ tay tế độ vớt trầm luân.
Chân Thâm Tuệ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Châu Yoder. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 1 năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau: Một đi về hướng cao Thâm. Vun bồi Tuệ giác, chuyên cần sớm trưa. Ra công học đạo chân thừa. Vườn tâm xanh tốt bốn mùa nở hoa.
Chân Thật (tên gọi) Vị đệ tử chót của tổ Cương Kỷ tăng cang chùa Từ Hiếu, pháp danh Thanh Quý, bổn sư của Thầy Làng Mai. Tổ được sư huynh Tuệ Minh phó pháp truyền đăng với bài kệ sau đây: Chân Thật duy tùng thể tính không. Thâm cùng vọng thức bản lai không. Thỉ tư thị vật nguyên vô vật. Diệu dụng vô khuy chỉ tự công.
Chân Thật Đạo (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ tên gọi Ấn Độ, pháp danh Tâm Hiền, tên Shantum Seth. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 12 năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau: Quán tâm Thật tướng tợ trăng rằm. Đạo cũng tâm mà cảnh cũng tâm. Sông Hằng cát trắng ai ngồi đếm? Môi bé thơ cười giữa Trúc Lâm.
Chân Thắng Giải (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Patrick Lacoste. Được Thầy Làng Mai truyền đăng tháng 1 năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau: Phúc duyên thù Thắng nơi đây. Lòng riêng một tấc Giải bày núi sông. Mới hay thanh khí tương tầm. Vàng gieo đáy nước cây lồng bóng sân.
Chân Thiện (tên g