Trang Nhà | Làng Mai | Thiền Sư Nhất Hạnh |Tu Học | Tin Tức | Hình Ảnh | Văn Nghệ | Hiểu và Thương | Tài Liệu | Khóa Tu | Bạn Trẻ | Việt Nam 2008

 

 

 

Tin Sinh Hoạt

Tin Đặc Biệt

Báo Chí
Tây Phương

Thương Tiếc

Việt Nam 2005

Việt Nam 2007

 

     
 

 

 
Thương tiếc anh Chân Pháp Nhãn Karl Schmied
một giáo thọ xuất sắc của Làng Mai
Sư cô Chân Không
   
*** Bài viết của sư cô Bi Nghiêm trong chuyến đi Đức để lo tang lễ cho anh Chân Pháp Nhãn

***tải xuống bài này (dưới dạng file Word.doc)***

Chú bé tị nạn trên đất nước mình

Karl Schmied sinh ngày 22 tháng 2 năm 1933 tại tỉnh Bohême, Tiệp Khắc vào thời buổi mà một phần đất nước Tiệp Khắc bị sát nhập vào Đức Quốc Xã. Cha mẹ anh đều là người Đức và đều sinh trưởng tại đây. Ông bà có một xưởng làm màu nhuộm bán cùng khắp nước Tiệp Khắc. Thế chiến thứ hai bùng nổ, ông Alois Schmied, cha của anh phải đi quân dịch. Mẹ anh, bà Ernestine Schmied, một mình phải nuôi hai con thơ: bé Karl 10 tuổi và bé Kurt 6 tuổi và một mẹ già trong suốt thời gian thế chiến thứ hai. Sau khi thế chiến thứ hai chấm dứt vào tháng 8 năm 1945, người Tiệp dành lại độc lập và ra lệnh đuổi tất cả những người gốc Đức ra khỏi nước Tiệp trong vòng ba ngày. Bà Schmied chỉ gom góp được chút ít tiền bạc trước khi bị đẩy lên xe đưa về miền Nam nước Đức. Cả gia đình bị bỏ vào một trại tị nạn gần Stuttgart. Mẹ của Karl tìm ra được một chỗ làm công nhân cho hãng sản xuất màu nhuộm (một nghề mà khi ở Tiệp Khắc bà đã là chủ hãng) đủ tiền để nuôi hai con mọn và mẹ già. Bà rất can đảm và đầy tinh thần trách nhiệm. Karl thừa hưởng được tinh thần trách nhiệm đó. Một năm sau khi thế chiến chấm dứt, ông Alois Schmied mới mãn hạn làm tù binh ở Pháp và sau nhiều tháng về lại Đức ông mới tìm được vợ con. Lý do là vì khi nhập ngũ, Alois Schmied chỉ biết vợ con mình ở địa chỉ ngôi nhà ở Tiệp Khắc. Gặp lại cha nhưng Karl không hạnh phúc lắm vì người lính vừa mãn hạn tù về nhà, với đầy những kỷ niệm đau thương của chiến tranh, chỉ vùi mình trong rượu và đã trở nên một người nghiện rượu và không giúp được gì cho ba mẹ con. Tuổi nhỏ nhưng từ lúc theo trung học, Karl cũng tìm những việc làm nho nhỏ để kiếm tiền phụ mẹ, nuôi em và tự lo cho mình ăn học. Vừa tốt nghiệp ra trường, chàng thanh niên nhanh và nhẹn tháo vát tên Karl được một hãng bán máy đánh chữ của Hoa Kỳ chú ý và thu dụng làm nhân viên thương mại, đi giới thiệu hàng của hãng này cho khách hàng là những trung tâm bán lẻ máy đánh chữ của Hoa Kỳ trên khắp nước Đức.

Nhà thương gia và nhà học Phật

Karl rất xuất sắc nên không bao lâu được đưa đi tham dự một khóa huấn nghệ để được lên làm Marketing Director của hãng này. Gia đình Karl theo theo đạo Thiên Chúa. Mẹ của Karl là một phụ nữ rất ngoan đạo Chúa nên chủ nhật nào bà cũng không quên dắt con đi nhà thờ. Ngày nhỏ Karl vâng lời đi theo mẹ nhưng tới tuổi thanh niên, với khối óc nhanh nhẹn, cực kỳ thông minh, Karl nghe không lọt tai lối diễn giảng quá xưa của nhà thờ về Chúa Ba Ngôi. Karl bắt đầu tìm hiểu những truyền thống tâm linh Đông phương. Karl có đi Ấn Độ, tìm hiểu Ấn Độ giáo nhưng thấy thích những điều Bụt Thích Ca dạy hơn. Trở về Đức, Karl tìm ra được một nhóm người cư sĩ thuộc truyền thống Tây Tạng theo Lạt Ma Govinda. Nhóm này học Phật với bác sĩ Gottmann và thỉnh thoảng mời các vị Lạt Ma Tây Tạng đến dạy các lớp giáo lý Phật giáo. Sự tìm hiểu tâm linh của Kark không chạy theo kịp trí thông minh về thương mại, Karl đã thành công rất nhanh trên thương trường. Anh xin thôi chức Giám Đốc Thương Mại của hãng Hoa Kỳ và chung vốn với một người bạn Đức thành lập một hãng Xuất Nhập Cảng có trụ sở vừa ở Đức vừa ở Ý Đại Lợi và đứng làm Đồng Giám Đốc điều hành với bạn. Sau đó anh lại lập thêm một hãng thứ hai của riêng anh để có thể mướn em trai anh làm phụ tá. Karl đại diện cho nhiều hãng của Đức bán hàng qua Ý Đại Lợi, Thụy Sỹ và Áo, và đem hàng các nước này vào bán lại cho Đức. Karl đã nhanh chóng trở thành tỷ phú. Xe ô tô của anh từ những năm ấy đến mãi về sau vẫn là những chiếc xe chạy nhanh, đẹp và sang trọng nhất! Thành công trên thương trường và anh cũng rất “thành công” trong việc “ học” những điều Bụt dạy. Với bộ óc rất thông minh, nhanh nhẹn, những lý nghĩa uyên áo của đức Thích Ca đã làm thỏa mãn khối óc uyên bác của anh. Anh học thêm tiếng Sanskrit và tìm đọc nhiều kinh của Bụt dạy, thuộc rành những kinh như Duy Ma Cật, Kim Cương, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa… để hiểu thêm về những gì mà quý vị Lạt Ma Tây Tạng và Lạt Ma gốc Đức đã dạy cho nhóm cư sĩ quyết tâm học Phật như anh. Anh được các bạn trong nhóm cư sĩ bầu làm đàn anh và gửi đi Big Sur, California để được trực tiếp học với Lama Govinda (Tác giả Đường Mây Qua Xứ Tuyết). Lama Govinda rất thương quý anh và đã nhờ anh đại diện làm quản lý cho những cuốn sách của ông được xuất bản tại Đức. Anh cũng được Hội Phật Giáo Tây Tạng trường phái Govinda mời làm Giáo Thọ đi giảng dạy Kim Cang Thừa của truyền thống Tây Tạng: Anh là Dharma Teacher (giáo thọ) của dòng The Order of Lama Govinda. Anh được bầu làm Chủ tịch Hội Phật Học Stuttgart, rồi chủ tịch Tổng Hội Phật Giáo Tây Đức và cuối cùng làm Chủ Tịch Liên Hiệp Hội Phật Giáo Âu Châu. Trong thời gian này, vì là Chủ Hãng Xuất Nhập Cảng, anh đi các nơi vừa bán hàng, mua hàng vừa dạy lý thuyết Phật giáo với những ai thích tìm hiểu đạo Bụt. Anh ăn nói duyên dáng, lái một chiếc xe sang và đẹp nhất của giới thượng lưu, uống những loại rượu đắt tiền, ăn những thức ăn sành điệu. Anh cưới chị Lori năm 1960. Vợ anh sinh cho anh được cháu gái tên Suzanna. Khi cháu lên 11 tuổi thì chị Lori bị ung thư và chết năm 1972. Năm 1974 anh gặp chị Ilona và cưới chị năm 1975. Chị là người rất ưa lối sống tiến bộ của nhiều người Đức thượng lưu. Chị thích tập yoga, hướng dẫn những khóa tu dạy thiên hạ nhịn đói nhưng không mất sức bằng cách ăn những thực phẩm thực vật, có đầy đủ chất đạm và chất khoáng. Trong khi đó thì anh vẫn đam mê Phật giáo và làm thương mại. Thú vui của anh là làm thương mại, đấu thầu, hội họp để bàn những kế hoạch xuất nhập cảng rất lớn, tiệc tùng với những đại thương gia, và về phía tâm linh thì đọc và giảng thuyết thật nhiều kinh Phật. Đạo Phật của anh từ 1985 đến 1990 là đạo Phật khá lý thuyết, cũng rộn ràng và rộng rãi như ngành thương mại của anh. Anh và chị sống chung với nhau được gần 15 năm và dần dần mỗi người có một lối sống riêng, chị thì thích thú yoga, ăn theo dưỡng sinh (nhưng không ăn chay), anh thì thích đi thuyết pháp và làm thương mại. Hai người tôn trọng nhau và cho nhau nhiều không gian để mỗi người tự đi con đường của mình. Vì thế mà ngôi nhà cực kỳ đẹp của anh trên núi, anh chỉ ở trong đó mỗi năm khoảng bốn (!) ngày. Những ngày còn lại là đi hội họp, giao dịch, ký hợp đồng thương mại và… thuyết pháp!

Gặp Thầy

Tháng 6 năm 1989, lần đầu tiên anh được ông Sylvius Dornier một tỷ phú thuộc gia đình Dornier mời đi gặp một ông thầy tu người Việt Nam đang hướng dẫn một khóa tu cho người Đức tại trung tâm Kamalashila. (Đại gia đình Dornier có nhiều hãng lớn sản xuất phi cơ quân sự, vũ khí của Đức để bán cho các nước, chỉ có ông Sylvius là ưa đời sống tâm linh). Kamashila là một Trung Tâm thực tập Phật giáo Tây Tạng miền Trung Tây Đức. Sylvius nói Karl phải đi thăm cái ông thầy tu rất “holy” (thánh thiện) này. Nhà xuất bản Theseus Verlag của Sylvius ở Zurich vừa xuất bản xong quyển Being Peace của thầy và vì thấy sách của Thiền Sư này hay quá, nhất là quyển Trái Tim Mặt Trời nên Sylvius muốn đích thân dịch từ Anh ngữ ra Đức ngữ và ông vừa mới dịch xong. Khi nghe Thiền Sư tới Đức và đang dạy một khóa tu ở Kamashila, Sylvius quyết chí rủ Karl ghé thăm. Lúc này Karl đang là giáo thọ Dòng Tây Tạng của Lama Govinda nên không hứng khởi lắm khi “ bị ” đi gặp một ông thầy tu, nhất lại là một ông thầy tu người Việt Nam. Karl nói với Sylvius: Ôi, thầy tu thì tôi gặp

---đọc tiếp---

 
Làng Mai - Plum Village - Village Des Pruniers - Tu Viện Lộc Uyển - Deer Park Monastery - Tu Viện Thanh Sơn - Tu Viện Bích Nham
24240 Le Pey Thenac France - Góp Ý
:
banbientap@langmai.org