|
Tìm Hiểu Về Nếp Sống Xuất Gia
Theo Truyền Thống Làng Mai
Tại châu Âu, các bạn có thể đến thăm viếng Đạo Tràng Mai Thôn để tìm hiểu về nếp sống xuất gia theo truyền thống Làng Mai. Tại Đạo Tràng Mai Thôn có bốn chùa, hai chùa của các vị xuất gia nam, đó là Chùa Pháp Vân và Chùa Sơn Hạ, và hai cạhùa của các sư cô, đó là Chùa Cam Lộ và Chùa Từ Nghiêm. Chùa Pháp Vân do thầy Thích Chân Nguyện Hải trú trì, chùa Sơn Hạ do thầy Thích Chân Pháp Sơn trú trì. Thầy Nguyện Hải là người Việt có quốc tịch Đan Mạch. Thầy Pháp Sơn là người Tây Ban Nha có quốc tịch Anh. Chùa Cam Lộ do sư cô Thích Chân Diệu Nghiêm, người Ái Nhĩ Lan gốc Hòa Lan trú trì. Chùa Từ Nghiêm do sư cô Thích Chân Định Nghiêm, quốc tịch Pháp gốc Việt trú trì.
Tại Bắc Mỹ, các bạn có thể đến thăm viếng tu viện Rừng Phong tại tiểu bang Vermont và tu viện Lộc Uyển tại tiểu bang California. Tu viện Rừng Phong có chùa Thạch Lang của quý thầy do thầy Thích Chân Pháp Đăng, quốc tịch Mỹ gốc Việt trú trì, và có chùa Tùng Hạc do sư cô Thích Chân Đức Nghiêm, người Anh, trú trì. Tu viện Lộc Uyển có chùa Trong Sáng do sư cô Thích Nữ Trung Chính làm trú trì và chùa Vững Chãi do thầy Thích Chân Pháp Dung trú trì. Sư cô Trung Chính có quốc tịch Úc nhưng gốc Việt. Thầy Pháp Dung có quốc tịch Mỹ nhưng gốc Việt.
Tại Việt Nam, các bạn có thể đến viếng thăm các chùa Từ Hiếu và chùa Diệu Nghiêm ở Huế, và chùa Bát Nhã ở Bảo Lộc. Chùa Từ Hiếu do Thượng tọa Thích Chí Mậu làm trú trì, chùa Diệu Nghiêm do sư bà Diệu Trí trú trì. Tu viện Bát Nhã ở Bảo Lộc có hai khu riêng biệt: chùa Bếp Lửa Hồng của các sư cô và chùa Rừng Phương Bối của các thầy. Viện chủ của tu viện Bát Nhã là Thượng tọa Thích Đức Nghi. Các thầy và các sư cô cư trú và thực tập trong các chùa ở Pháp, Hoa Kỳ và Việt Nam thuộc truyền thống Mai Thôn Đạo Tràng gồm có 20 quốc tịch, tất cả đều mặc áo nâu, màu áo truyền thống của người xuất gia Việt Nam. Ở Pháp và ở Mỹ, ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất là tiếng Anh, và thường tụng niệm bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Việt. Tại Việt Nam, ngôn ngữ chính là tiếng Việt, thỉnh thoảng các thầy và các sư cô cũng xướng tụng được bằng tiếng Anh. Nếu bạn có duyên ở lại một tuần với các thầy hoặc các sư cô, bạn sẽ tìm ra được những nét chính của nếp sinh hoạt xuất gia ở những nơi ấy.
- Điều thứ nhất là những người xuất gia rất ý thức được rằng xây dựng tình huynh đệ là nền tảng của nếp sống cộng đồng. Thiếu tình huynh đệ, người xuất gia không đi xa được, cho nên sự thực tập hàng ngày có tác dụng chế tác và làm lớn lên tình huynh đệ. Đây là điểm đặc sắc của tăng thân.
- Điều thứ hai là những người xuất gia không ai có trương mục ngân hàng riêng, xe hơi hoặc xe gắn máy riêng, máy tính và máy điện thoại riêng. Tất cả đều thuộc về cộng đồng và người sử dụng các tiện nghi ấy ý thức được là mình đang sử dụng chúng để chỉ phục vụ cho tăng thân mà không phải cho riêng mình. Địa chỉ điện thư là địa chỉ chung của chùa, không ai có địa chỉ email riêng.
- Điều thứ ba là không ai hút thuốc, uống bia, đọc tiểu thuyết, nghe nhạc tình sầu của thế gian, xem phim thế gian. Lâu lâu đại chúng cũng có dịp cùng ngồi xem một phim hay, có tính cách giáo dục và học hỏi.
- Điều thứ tư là không ai đi ra ngoài một mình. Nếu có phận sự hoặc có nhu yếu đi chữa bệnh, đi mua sắm cho chúng, đi đón thiền sinh thì ít nhất cũng phải đi với một người thứ hai gọi là “đệ nhị thân”.
- Điều thứ năm là cái học đi chung với cái thực tập. Mỗi ngày đều có lớp học, nhưng mỗi ngày đều có hai buổi ngồi thiền và tụng kinh, một buổi đi thiền hành và mỗi tuần có hai buổi pháp đàm. Những buổi thực tập đều có áp dụng những điều đã học trong kinh, luật và luận. Cái học có tính thiết thực, không có tính từ chương. Tuy không có những cuộc thi, giám sát và lên lớp nhưng mỗi tăng sinh đều có y chỉ sư chỉ dẫn để có thể học hết những khóa học căn bản như Trái tim của Bụt, Duy Thức Tam Thập tụng, Duy Biểu Học, Lịch sử Thiền tập, Công phu nở đóa sen ngàn cánh, Đại Tạng Nam Truyền, Đại Tạng Bắc Truyền, vân vân ... Lễ Truyền Đăng có thể được xem như lễ tốt nghiệp. Nhưng để được truyền đăng, người học tăng phải đi qua những năm học hỏi và thực tập dưới sự chỉ đạo của tăng thân, và nếu khả năng tu tập còn chưa đủ vững mạnh thì lễ Truyền Đăng có thể bị dời lại một năm hay nhiều năm. Sự tu tập và học hỏi được tăng thân hướng dẫn và soi sáng hàng ngày, hàng tháng chứ không căn cứ trên những kỳ học thi và lên lớp. Sự học hỏi được đi theo nguyên tắc huân tập về cái học lẫn cái hành chứ không phải nguyên tắc chứa chấp kiến thức và thi cử.
- Điều thứ sáu là trong suốt thời gian tu tập trước khi được truyền đăng, người học tăng đã có cơ hội phụ tá giúp đỡ các vị giáo thọ tổ chức các khóa tu, hướng dẫn pháp đàm và chăm sóc các thiền sinh rồi chứ không phải đợi đến sau ngày truyền đăng mới có cơ hội phụng sự. Giới luật, uy nghi, cách chấp tác và hành trì của các học tăng đã là những bài pháp thoại không lời và đó là những cơ hội để học hỏi thực tập giúp đời. Những người tập sự xuất gia có cơ hội sống chung với giới xuất gia nhiều tháng, có khi cả năm để xác nhận được lý tưởng của mình.
- Điều thứ bảy là các vị cư sĩ có cơ hội tham dự tu tập học hỏi và làm việc với các vị xuất gia để tạo thành một tăng thân bốn chúng, làm việc trong sự tương kính lẫn nhau, để làm chỗ nương tựa cho giới thiền sinh từ ngoài tới tu học. Giới cư sĩ cũng có cơ hội học hỏi và tu tập như các vị xuất gia, chứ không phải chỉ đóng vai trò hộ pháp.
- Điều thứ tám là tăng sinh học tất cả các môn ngay trong tu viện và không bao giờ đi học trường ngoài, như vậy để không bị ảnh hưởng bởi những thói hư tật xấu. Sinh ngữ cũng được dạy trong tu viện để các vị giáo thọ tương lai có khả năng đi hướng dẫn những khóa tu ở quốc ngoại.
|