| |
Đi
Như Một Dòng Sông
Đường Xưa Mây Trắng
Hạt Giống Đi Xa
Làng Mai Vô Tướng
RUE DE LA GOUTLE D'OR
Sáu Cây Tùng Lọng
Sen Búp Từng Cánh Hé
Liên Hệ Thầy Trò
Rue de la goutte d'or
Tôi rời đất nước năm 1966,
vào tháng năm. Lúc đó chiến tranh Việt Nam đã đi tới mức khủng khiếp.
Tôi nghĩ rằng mình phải ra đi để cất lên tiếng kêu gọi hòa bình.
Tôi chỉ muốn đi vài tháng thôi rồi về. Lúc đó trường đại học Cornell
ở Ithaca mời tôi qua để giảng một loạt bài về tình hình ở Đông Nam
Á. Người đứng ra mời là George Kahin, giáo sư chính trị học ở tại
trường Cornell. Tôi đi ra để nói rõ là dân Việt Nam không muốn đánh
nhau nữa, chỉ muốn ngồi xuống thương thuyết với nhau để đi tới một
giải pháp hòa bình và các cường quốc lớn trên thế giới đừng dùng
Việt Nam làm một chỗ để tranh giành ảnh hưởng nữa, đừng sử dụng
ý thức hệ cũng như bom đạn trên đất nước nhỏ bé đó. Trong chuyến
đi này, tôi có nhờ một tổ chức hòa bình là Fellowship of Reconciliation
, gọi là Hội Thân Hữu Hòa Giải sắp đặt. Đó là một tổ chức có tính
cách tôn giáo và tâm linh, không phải là một tổ chức chính trị.
Họ bảo trợ cho tôi để tôi có thể đi khắp nơi trên nước Mỹ và các
nước Âu châu và Úc châu để nói lên tiếng nói của những người khao
khát hòa bình. Trong chuyến đi đó tôi đã đi Mỹ, đã đi hầu hết các
nước Âu châu và sau đó tôi đi Úc, đi Tân Tây Lan, đi Phi Luật Tân
và đi Nhật. Trong quá trình vận động hòa bình này, tôi được báo
tin rằng chính quyền Việt Nam không muốn cho tôi về nữa. Vì vậy
tôi đã bị lưu đày từ tháng 5 năm 1966 đến bây giờ. Hồi đó, gần như
mỗi đêm tôi đều có nằm mơ về nhà. Tất cả bạn bè, học trò và công
việc lý tưởng của mình đều ở Việt Nam. Nào là Viện Cao Đẳng Phật
học, Viện Đại Học Vạn Hạnh, tuần báo Hải Triều Âm, trường Thanh
Niên Phụng Sự Xã Hội, nhà xuất bản Lá Bối, tất cả công việc đó,
tất cả học tăng nam và nữ đều ở Việt Nam. Vì vậy không về được Việt
Nam tôi rất buồn. Tôi bị lưu đày vì đã dám cất lên tiếng kêu gọi
hòa bình. Trong những giấc mơ tôi thấy tôi đang leo một cái đồi
rất xanh, có những cây rất đẹp và có những căn nhà rất xinh xắn.
Thường thường leo tới lưng chừng đồi thì tôi tỉnh dậy và nhớ rằng
mình đang bị lưu đày. Giấc mơ này cứ lập đi lập lại nhiều lần. Tôi
đi làm việc rất hăng hái. Có khi chỉ ngủ một đêm ở một thành phố,
và khi làm việc tại thành phố đó xong thì phải bay đi thành phố
khác. Thời gian ngồi trên máy bay là lúc nghỉ ngơi vì xuống máy
bay, vào đến phi trường là phải họp báo, phải nói chuyện. Tôi đã
đi tới rất nhiều các thành phố lớn ở Âu châu, Mỹ châu, Úc châu.
Có lúc thức dậy ở khách sạn, tôi không biết là tôi đang ở đâu. Hồi
đó các thành phố ở Âu châu chưa có chùa. Tổ chức bảo trợ cho tôi
là một tổ chức hòa bình có khuynh hướng tôn giáo mà trụ sở đặt ở
Newark, New York. Họ lo cho tôi về vấn đề chuyên chở và cư trú,
và họ cử một vị phụ tá đi theo. Hồi đó làm gì có phụ tá người Việt
nên mỗi khi bị cảm tôi phải nhờ phụ tá người Mỹ cạo gió. Mà phụ
tá người Mỹ làm sao biết cạo gió, nên tôi phải huấn luyện cho người
đó để anh ta có thể cạo gió được. Lúc đó tôi đã biết tu tập chánh
niệm, biết cố gắng an trú bây giờ và ở đây, cho nên trong mỗi hơi
thở, trong mỗi bước chân, tôi đều có thực tập làm quen với cảnh
vật và con người ở tại Âu châu. Cây cối ở đây khác, chim chóc khác,
hoa cỏ cũng khác và người cũng khác. Tôi phải tập làm quen và chơi
với trẻ em ở Âu châu: trẻ em Đức, trẻ em Pháp, trẻ em Ý; làm bạn
không phải với những ông thầy tu đạo Bụt mà làm bạn với những ông
mục sư Tin Lành, những ông linh mục Công giáo, và thực tập nhận
diện những cái mầu nhiệm của hiện hữu đang có mặt xung quanh mình.
Tôi thực tập rất đàng hoàng và sau đó vào khoảng một năm hay một
năm mấy thì giấc mơ kia không trở về nữa. Tôi đã chấp nhận cả trái
đất là quê hương của mình. Từ năm 1968 đến 1975 tôi thành lập và
hướng dẫn một phái đoàn hòa bình của giáo hội Phật Giáo Việt Nam
tại Paris. Cuối năm 68, đầu 69 đã có hội nghị hòa bình tại Paris
và khi thăm dò thì biết bộ ngoại giao chính phủ Pháp đồng ý cho
mình mở một trụ sở của Phật giáo tại Paris. Nhưng khi mình triệu
tập hội nghị Phật giáo Việt Nam tại Paris, mời tất cả các đại diện
Phật giáo Việt Nam tại các nước về họp ở Paris thì bộ ngoại giao
lại không cho, bộ ngoại giao ép mình phải đem cái hội nghị đó về
Fontaienbleau dưới áp lực các phái đoàn Hà Nội, Sài Gòn và Mỹ. Ban
đầu trụ sở của phái đoàn Phật giáo Việt Nam là ở tại Maisons Alfort,
ngoại ô Paris. Sau đó, vào tháng 5, 1970 thì mới dời trụ sở đó về
Paris, đó là số 11 đường La Gtoutte d'Or ở Paris 18 è. Trước đó
tôi đã sáng tác được cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa (Lotus in the Sea
of Fire) , được xuất bản bằng tiếng Anh, rồi bằng tiếng Đức, rồi
bằng một số các thứ tiếng khác trong đó có tiếng Nhật. Cuốn này
cũng được in chui ở Việt Nam nhiều lần. Sư cô Chân Không hồi đó
có giúp vào việc in chui, phát hành chui sách này và bị bắt. Sư
cô bị bắt tại Huế vì có trong người một cuốn Hoa Sen Trong Biển
Lửa , được xem như tài liệu hòa bình. Cô được chuyển về nhà giam
ở Sài Gòn. Hồi đó tôi cũng sáng tác và gửi về nhà một tập thơ gọi
là Tiếng Đập Cánh Loài Chim Lớn cũng đã được sư cô in chui. Nhà
xuất bản ở bên Mỹ cũng có in của tôi một tập thơ gọi là The Cry
of Vietnam , in tiếng Anh và sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng
khác. Trong thời gian làm việc tại Maisons Alfort tôi có xuất bản
cuốn Love in Action và một tập khảo luận gọi là Đối Thoại Cánh Cửa
Hòa Bình, đối thoại giữa những người quốc gia và người cọng sản,
( Dialogue, the Key to Vietnam Peace ). Sau đó một thời gian phái
đoàn Phật Giáo Việt Nam được dời về thành phố Sceaux, 69 Boulevard
des Granges mà số điện thoại là 7.02.67.33. Trong thời gian làm
việc tại Sceaux tôi có sáng tác được Vấn Đề Nhận Thức Trong Duy
Thức Học , tôi có viết được Văn Lang Dị Sử, Phép Lạ của Sự Tỉnh
Thức , Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I . Trong thời gian đó tôi được
nhận vào dạy ở trường Ecole Pratique des Hautes Etudes trong ngành
gọi là Science Historique et Philologique (khoa học lịch sử và bác
ngữ). Chính trong thời gian giảng dạy đó mà tôi tìm ra được sự thật
là Tuệ Trung Thượng Sĩ không phải con của Trần Hưng Đạo mà là anh
ruột của tướng Trần Hưng Đạo. Hồi đó tôi cũng viết cuốn Nẻo Vào
Thiền Học nhưng không phải bằng tiếng Việt. Nó được một nhà xuất
bản ở Paris đặt viết bằng tiếng Pháp, và khi xuất bản tên là "Clés
du Zen".
Sau 1975, khi Mỹ rút khỏi
Việt Nam và chính quyền miền Bắc nắm hết cả miền Bắc lẫn miền Nam
thì tăng thân ở Paris rút về Phương Vân Am. Phương Vân Am cách một
giờ rưỡi từ Paris, và là chỗ mà trước đó mỗi cuối tuần mình đều
về để tu dưỡng. Tại Phương Vân Am tôi đã sáng tác được Bưởi , Trái
Tim Mặt Trời , Việt Nam Phật Giáo Sử Luận II và Việt Nam Phật Giáo
Sử Luận III. Trong thời gian ở Phương Vân Am này, từ 1975 đến 1982,
cho đến khi tìm ra Làng Mai thì tôi, sư cô Chân Không và một số
các vị khác trong tăng thân đã tổ chức cứu trợ thuyền nhân, đã thuê
ba chiếc tàu, một chiếc tên là Leapdal, một chiếc tên là Roland,
và một chiếc tên là Saigon 200 để đi cứu thuyền nhân trên biển.
Mục đích của mình là vớt người trên biển để chở một cách bí mật
tới các nước như Úc... Lúc ấy trên thuyền của mình đã có 550 thuyền
nhân, nhưng sau đó công tác bị lộ, tôi cũng như sư cô Chân Không
bị dẫn độ, tức là bị đuổi ra khỏi Tân Gia Ba, vì văn phòng của mình
hoạt động bí mật ở Tân Gia Ba. Tân Gia Ba có một chính sách rất
không nhân từ đối với thuyền nhân. Mình bị lộ vì các nhà báo đi
săn tin, nếu không thì mình đã có thể chở các thuyền nhân đó sang
Úc và họ đã được định cư rất sớm. Vì bị phát giác nên các thuyền
nhân đó bị giao cho Ủy Ban Tị Nạn của Liên Hiệp Quốc và phải ở trong
các trại tị nạn ba năm, bốn năm hoặc năm năm mới có thể đi định
cư. Rất tiếc. Trong cuốn Thử Tìm Dấu Chân Trên Cát sư cô Chân Không
có kể lại câu chuyện đi cứu trợ thuyền nhân trên biển. Mời quý vị
đọc. Như quý vị đã biết, ở Phương Vân Am, mỗi mùa hè mình cũng mở
cửa cho thiền sinh tới tu học nhưng vì cơ sở bé nhỏ quá nên mình
mới có ý đi về miền Nam để kiếm một chỗ lớn hơn. Sư cô Chân Không,
trước khi rời Việt Nam để qua giúp tôi, đã làm việc với trường Thanh
Niên Phụng Sự Xã Hội rất đắc lực. Và sư cô Chân Không đã có mặt
với tôi bắt đầu từ năm 1968 cho tới bây giờ, đã yểm trợ tất cả công
tác về hòa bình, về xã hội của tôi một cách liên tục, không có một
giây phút nào ngưng nghỉ, không có một giây phút nào thối chí và
muốn bỏ cuộc. Cố nhiên là tôi có rất nhiều các bạn và các đệ tử
khác, nhưng có người đã bỏ cuộc nửa chừng, bởi vì trên đường tranh
đấu cho hòa bình, nhân quyền và xây dựng Tăng thân, có rất nhiều
hiểm nguy, khó khăn và trở ngại. Có thể là vì có những khó khăn
nội tâm hay khó khăn ngoại cảnh mà nhiều người phải bỏ cuộc nhưng
sư cô Chân Không đã đi bên tôi từ đầu đến cuối như một chiến hữu,
chưa bao giờ có tư tưởng bỏ cuộc nửa chừng.
|