![]() |
||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Hoa Hướng Dương còn đó, tôi còn đây |
||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Sư Cô Trạc Tuyền Tác giả: thầy Pháp Dụng * Sư Cô Trạc Tuyền (Bạn có thể tải xuống Sư cô Trạc Tuyền dưới dạng Microsoft Word) Sư cô Trạc Tuyền là một người rất tài. Trong xã hội sư cô lớn lên, người ta rất e ngại khi thấy sư cô vừa đẹp, vừa giỏi như vậy. Người ta có quan niệm "chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau," người tài ba thường có một đời sống bất hạnh. Có lẽ quan niệm đó đã trở thành một nỗi ám ảnh bé Kiều từ thuở nhỏ. Gia đình của bé còn đi coi bói, và buồn thay, người thầy bói đã nói: "Anh hoa phát tiết ra ngoài, nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa." Đó, người lớn đã nói với đứa bé một câu vô cùng thiếu trách nhiệm như vậy. Người thầy bói đã nói, em này có nhan sắc, có tài năng, và tài sắc của em phát hiện ra rõ ràng như vậy thì thế nào cuộc đời em cũng khổ. Thế nào em cũng khổ, điều này ám ảnh sư cô cho đến hơn ba mươi tuổi mới hết. Hình như cụ Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều, cũng có nỗi ám ảnh ma quái này. Thi sĩ tin là mình có tài, và mình phải chịu khổ đau nhiều hơn người khác. Sư cô Trạc Tuyền, hồi còn bé đã tin như vậy. Bé có sáng tác một nhạc phẩm tên là "Bạc Mệnh", tức là số phận khổ đau. Con nít mà đã có tư tưởng như vậy rồi. Cho nên chúng ta phải rất cẩn trọng khi dạy con, tránh gieo rắc cho con nít những tư tưởng tiêu cực. Con ta có tài là một điều rất tốt. Trẻ em nào mà không có tài. Vấn đề là ta phải biết em có sở trường gì và khuyến khích, tạo điều kiện cho em phát triển tài năng của mình. Bé Kiều giỏi về âm nhạc. Bé đàn
hay lắm. Bé có tài năng trời phú. "Thông minh vốn sẵn tính trời,
pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm." Bé vẽ đẹp, hát hay là biết làm
thơ nữa. Nhất là bé Kiều càng lớn thì càng đẹp. Nhưng gia đình của bé
Kiều không biết hướng dẫn để bé phát triển tài năng đúng hướng. Sáng tác
của bé Kiều thường rất buồn. Bé toàn sáng tác những bài thơ nói về tình
cảm dở dang, đời sống bất hạnh, nỗi buồn ly biệt vv. Bây giờ ở Việt Nam,
con nít cũng thường hay hát những bài như vậy lắm. Vì bị ám ảnh rằng cuộc đời mình,
có tài, có sắc, nhưng sẽ khổ nên Thúy Kiều đã đồng hóa mình và Đạm Tiên,
một cô gái thanh lâu. Ta có thể nói Đạm Tiên là hạt giống khổ đau ở trong
lòng của Thúy Kiều. Đạm Tiên ám ảnh Thúy Kiều mãi. Cũng năm đó, gia đình Thúy Kiều gặp một tai nạn và cha Thúy Kiều phải ra tòa, ở tù. Muốn giúp ông ra khỏi cảnh tù đày, gia đình phải có rất nhiều tiền. Trong khi mọi người chưa tìm ra giải pháp nào ổn thỏa thì Thúy Kiều đề nghị bán mình, lấy tiền chuộc tội cho cha. Kiều bán mình, nhưng không tìm được tấm chồng đàng hoàng, lại gặp phải một ma cô, chuyên lừa đảo con gái nhà lành để đem về tiếp khách. Thúy Kiều cũng có nghi, có nói với mẹ rằng: "Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn." Và mẹ Thúy Kiều cũng chỉ biết "tiếng oan đã muốn vạch trời kêu lên", chớ không làm gì hết. Trong thanh lâu, Kiều bị đánh đập, sỉ nhục. Có lúc, khổ quá, đã tự tử, muốn chết nhưng hình ảnh Đạm Tiên lại xuất hiện: chị không được chết. Chị phải khổ. Cuộc đời của chị là phải khổ. Khổ cho đến chết mới thôi. "Số còn nặng nghiệp má đào, người dầu muốn quyết trời nào đã cho!" Cũng có khi, hạt giống của tỉnh thức bừng dậy trong Kiều. "Khi tỉnh rượu lúc tàn canh, giật mình mình lại thương mình xót xa." Thúy Kiều nghĩ đến chuyện thương mình. Nhưng nàng chưa biết thương cách nào cả. Chưa biết tu, chưa có phương pháp tu. Thúy Kiều chỉ mới biết chấp nhận số phận mỏng manh tôi. Nàng chỉ biết than cuộc đời là khổ, chớ không biết tu gì hết. May thay, có một chàng sinh viên vào thăm kỹ viện tên là Kỳ Tâm, rất thương Thúy Kiều. Kỳ Tâm chuộc Thúy Kiều ra khỏi thanh lâu, muốn đem Kiều về làm vợ lẽ, nhưng Hoạn Thư, vợ cả Kỳ Tâm không chịu, làm khổ Kiều đủ cách và cuối cùng Kiều chọn giải pháp xuất gia. Nàng xuất gia ngay trong ngôi chùa thuộc khuôn viên vườn nhà của Kỳ Tâm và Hoạn Thư. "Sẵn Quan Âm Các vườn ta, có cây trăm thước có hoa bốn mùa." "Cho hay giọt nước cành dương, Giọt nước cành dương là giọt nước cam lộ của đức Bồ tát Quan Thế Âm, dùng cành dương liễu rưới lên chúng sanh, dập tắt tất cả mọi khổ đau. Đây là giọt nước mầu nhiệm của Phật pháp. Nghe kinh, tụng kinh là một cách tiếp xúc với giọt nước cành dương này. Sư cô Trạc Tuyền đã từng khổ đau, từng bị người đời lường gạt, đánh đập và sỉ nhục. Vào nương cửa thiền, sư cô mong tìm được những giây phút thanh thản, bình an. Sư cô đã tu như thế nào? "Phật tiền thảm lấp, sầu vùi, Sư cô muốn chôn lấp nỗi khổ, niềm đau của mình đi. Ban ngày sư cô chép kinh. Thủ tự là chữ viết tay. Còn tâm hương là gì? Đó là hương thơm tỏa ra từ tâm ta, khi trong tâm có chất liệu của định, của tuệ. Ta có thể nói sự thực tập của sư cô là ban ngày chép kinh và ban đêm thì ngồi thiền, tụng kinh. Chữ của sư cô đẹp lắm. Hoạn Thư mà cũng phải "khen rằng: bút pháp đã tinh, so vào với thiếp Lan Đình nào thua!" Nhưng thảm lấp, sầu vùi không phải là sự thực tập của người tu hành. Đi tu đâu phải là để quên nỗi khổ niềm đau. Càng đè nén khổ đau thì tâm ta càng bế tắc. Ta phải quán chiếu để hiểu được bản chất của khổ đau. Và muốn cho sự tu tập của ta lâu dài, vững bền thì ta phải có niềm vui trong đời sống người tu. Ngồi thiền, tụng kinh, ăn cơm, rửa chén, quét nhà... đều là để nuôi dưỡng niềm vui này. ----đọc
tiếp--- |
|||||||||||||||||||||||||||||||
| Làng
Mai - Plum Village
- Village Des Pruniers
- 24240 Le Pey Thenac France - Góp
Ý |
||||||||||||||||||||||||||||||||