Trang Nhà | Làng Mai | Thiền Sư Nhất Hạnh |Tu Học | Tin Tức | Hình Ảnh | Văn Nghệ | Tài Liệu | Khóa Tu | Bạn Trẻ



Hoa Hướng Dương còn đó, tôi còn đây

 
=============

 

Sư cô Trạc Tuyền chưa được ai hướng dẫn. Sư cô có những hạt giống hạnh phúc trong lòng nhưng không biết, tưởng mình chỉ có hạt giống khổ đau thôi. Đạm Tiên là bóng ma còn ám ảnh sư cô mãi. Cuộc đời của sư cô là phải khổ. Vì vậy tuy đã mặc áo người tu nhưng sư cô vẫn còn là Thúy Kiều. Nhiều người cho rằng Bụt dạy cuộc đời là bể khổ. Thật ra người dạy điều đó là Đạm Tiên, một con ma. Tin con ma này nên sư cô Trạc Tuyền tu học không có sự tiến bộ. Nhiều người tu cũng đang làm như sư cô Trạc Tuyền vậy, nhìn cái gì cũng thấy khổ hết.

Sư cô tự tu một mình. Sư cô không nắm vững pháp môn tu học, và khi người yêu cũ là Kỳ Tâm tới thăm, sư cô đã không biết cách thực tập cho đúng uy nghi của một người xuất gia. Theo uy nghi của thiền môn thì một sư cô không thể tiếp riêng một người khác phái. Vậy mà sư cô để cho Kỳ Tâm nắm tay, rồi khóc. "Sụt sùi giở nỗi đoạn trường, giọt châu tầm tã đẫm tràng áo xanh."

Nhiều sư cô, sư chú mới xuất gia, cũng gặp hoàn cảnh này. Có khi người yêu cũ tới thăm, hoặc gọi điện thoại. Nhưng sư cô, sư chú không nói chuyện điện thoại một mình. Phải có ít nhất là một người bạn tu ngồi một bên. Cái đó là uy nghi, sự thực tập của một người tu, có công năng làm cho người tu đẹp ra. Sư cô Trạc Tuyền có học uy nghi không? Chắc là không. Nếu có thì sư cô sẽ không tiếp Kỳ Tâm một mình.

Lúc này Hoạn Thư, vợ của Kỳ Tâm nấp bên, trông thấy và có ý coi thường sư cô. Sau đó bước ra Hoạn thư, giả bộ như không biết gì hết, khen chữ sư cô viết rất đẹp và nói: "Tiếc thay, lưu lạc giang hồ. Nghìn vàng thật cũng nên mua lấy tài." Hoạn Thư khen cái tài của sư cô Trạc Tuyền mà không nhắc tới cái đức. Hoạn Thư còn nhắc tới quá khứ lưu lạc giang hồ. Và Hoạn Thư than: tiếc thay! Các sư cô, sư chú phải lấy đây làm bài học cho mình. Chính vì không hành trì uy nghi nên sư cô Trạc Tuyền bị người thế gian khinh rẻ.

Hoạn Thư không tin là sư cô hết lòng tu học. Mặc dù trước đó chính Hoạn Thư yểm trợ việc xuất gia của sư cô. Hoạn Thư nghe sư cô, lúc đó là Thúy Kiều, muốn xuất gia, thì nói: "Thôi thì thôi cũng chiều lòng, cũng cho khỏi lụy trong vòng bước ra." Bước ra đâu? Bước ra khỏi khổ đau của chính mình. Muốn được vậy, ta phải học quán chiếu. Ta cần nhìn sâu để thấy được gốc rễ chân thật của nỗi khổ niềm đau trong ta. Sư cô Trạc Tuyền cũng có tu, nhưng mà thiếu thầy, cho nên chưa thật sự "tưới tắt mọi đường trần duyên." Trần duyên là những điều kiện đưa ta trở về với lối sống, lối suy nghĩ của người thế gian.

Sư cô Trạc Tuyền mới có ao ước để tưới tắt mọi đường trần duyên thôi, chớ chưa thật sự chấm dứt được những hệ lụy, trói buộc ở trong lòng. Lửa lòng tức là dục, là mong muốn. Có mong muốn là đã hay lắm rồi, nhưng để thành công, ta cần có một phương pháp. Sau lần bị Hoạn Thư bắt gặp mình nắm tay Kỳ Tâm thì sư cô Trạc Tuyền vừa xấu hổ, vừa sợ hãi và cuối cùng quyết định trốn đi. Trước khi đi, sư cô ăn cắp một cái chuông vàng và một chiếc khánh bạc của chùa. Và trên bước đường tìm thầy, sư cô Trạc Tuyền gặp ni sư Giác Duyên. Trần duyên là điều kiện mang đến hệ lụy, còn Giác Duyên là điều kiện mang tới giải thoát. Giác Duyên là hạt giống tỉnh thức của sư cô Trạc Tuyền, đã bắt đầu hội đủ nhân duyên để phát khởi. Gặp ni sư Giác Duyên, ta thấy sư cô Trạc Tuyền đổi khác:

"Gởi thân được chốn am mây,
Muối dưa đắp đổi, tháng ngày thong dong."

Trong lòng sư cô có nhiều bình an hơn. Mặc dù đời sống của một người tu giản dị lắm. Gởi thân là quy y, là nương tựa. Người tu phải học nương tựa nơi Bụt, nơi Pháp và nơi Tăng. Lúc này, ni sư Giác Duyên dạy sư cô nhiều hơn. Ni sư là một người sư chị lớn, thay mặt Bụt để dạy dỗ em mình. Ni sư dạy em cái gì? Trước tiên ni sư huấn luyện sư em về uy nghi. Chắc chắn ni sư đã khám phá ra sư em mình cần học thêm về uy nghi. Và sau đó, ni sư phải tùy căn cơ của sư em mình mà dạy thêm. Một người thầy giỏi phải biết quán chiếu căn cơ của học trò mình.

Am mây là một căn nhà lá, đơn giản, mộc mạc, có rất nhiều không gian để cho mây trên núi vào chơi và ngủ quên. Am lá phải có không gian thì mây mới vào chơi được. Am mây là hình ảnh tượng trưng cho nơi chốn mà sư cô Trạc Tuyền đang nương tựa. Am mây đây chính là Bụt, Pháp và Tăng. Am mây đây cũng là ni sư Giác Duyên. Trong lòng ni sư phải có nhiều không gian thì ni sư mới thương và giúp sư em tu học được. Ni sư có sự quán chiếu, có sự tháo gỡ, có được tự do thì việc hướng dẫn sư cô Trạc Tuyền trở nên rất uyển chuyển, linh động mà có kết quả.

Nếu không có không gian đó trong lòng, ta sẽ bám vào hình thức. Hình thức nào cũng cho ta một sự an tâm nhất định. Càng thiếu sự bình an thì ta càng bám vào hình thức. Ta buộc ta phải suy tư, hành động và nói năng theo cách ta mong muốn. Và ta ép các sư em phải theo khuôn mẫu do ta đề ra. Đó là một sự bình an nghèo nàn. Nếu sư em làm khác đi thì ta cảm thấy bất an, đau khổ. Nhiều khi làm cha, làm mẹ, ta cũng thích đưa con ta vào hình thức, khuôn khổ lắm. Nhưng mà con ta chỉ nghe lời ta khi chúng còn nhỏ. Lớn lên một chút, con ta sẽ có hướng đi của nó. Cho nên hay hơn hết là ta tạo được không gian ở trong lòng. Không gian này là một am mây cho ta và con ta nương tựa. Ni sư Giác Duyên là một am mây cho sư cô Trạc Tuyền. Nhờ đó mà sư cô Trạc Tuyền nếm được mùi vị của sự thong dong, thảnh thơi.

Nhưng ni sư Giác Duyên vẫn còn chưa giỏi lắm. Khi nghe sư cô Trạc Tuyền liên quan tới một vụ ăn cắp, thì ni sư "...nghe nói rụng rời, nửa thương nửa sợ bồi hồi chẳng xong." Sư em mình ăn cắp. Trời ơi, người tu mà ăn cắp hả, rồi lỡ quan lớn làm tình, làm tội thì sao? Và sự sợ hãi này đã vô tình đẩy sư cô Trạc Tuyền trở về làm Thúy Kiều, trong thân phận của một cô gái lầu xanh. Ni sư Giác Duyên không dám chứa một sư em đã phạm giới ăn cắp ở trong chùa, đem sư em mình gởi cho nhà họ Bạc. Ai ngờ nhà họ Bạc mà ni sư Giác Duyên tin tưởng đó, đã đem bán sư cô Trạc Tuyền vào lầu xanh. Lại lầu xanh.

Lầu xanh là sự biểu hiện ma quái của hạt giống Đạm Tiên trong lòng sư cô Trạc Tuyền. Đạm Tiên là một tập khí, thói quen. Tập khí khổ đau trong ta to lớn thật. Chuyển hóa khổ đau là chuyển hóa tập khí. Đạm Tiên là con ma ngày đêm ám ảnh nhiều người trong chúng ta.

Và cái sợ nữa. Chính vì cái sợ của hai thầy trò mà sư cô Trạc Tuyền không được tiếp tục tu hành. Ni sư Giác Duyên đã không nhận diện và đối trị được cái sợ. Cho nên ta có thể thấy là không gian trong lòng ni sư Giác Duyên còn nhỏ lắm.

Không biết là ni sư Giác Duyên có cảm thấy an tâm khi đưa sư em mình trở lại với cuộc đời bên ngoài hay không? Hình như là không. Sau đó, ni sư Giác Duyên đã đi tìm em mình. Trên đường tìm em, ni sư gặp đạo cô Tam Hợp. Đạo cô nói: "Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau, Tiền Đường thả một bè lau rước người." Ni sư Giác Duyên có nhiệm vụ cứu sư cô Trạc Tuyền. Cứu bằng cách nào? Bằng cách thả một bè lau. Bè lau tức pháp môn đưa người sang bến bờ bên kia. Đáo bỉ ngạn. Ni sư đã một lần có cơ hội giúp sư em, nhưng không thành công. Ni sư chưa thành công trong sự tu học.

Thật ra thì nếp sống tu học của chúng ta cũng không khác nếp sống của sư cô Trạc Tuyền mấy. Chúng ta trồi sụp, ra vào trong cảnh thiên đàng, địa ngục không biết bao nhiêu lần. Khi biết mình bị bán vào lầu xanh lần thứ hai, sư cô Trạc Tuyền đau đớn thốt: "Chém cha cái số hoa đào, gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi!"

---đọc tiếp---

Làng Mai - Plum Village - Village Des Pruniers - 24240 Le Pey Thenac France - Góp Ý