>
Trang chủ Giới thiệu Các tu viện Từ Hiếu và Thời Gian

Từ Hiếu và Thời Gian

Email In PDF.
Chỉ mục bài viết
Từ Hiếu và Thời Gian
trang 02
Tất cả các trang

Lặng lẽ bên dòng Hương


Dọc theo quốc lộ 1A, đến đoạn giữa chiếc đòn gánh Bắc Nam, ta ghé lại miền đất Kinh kỳ. Nơi còn lưu lại những dấu xưa trên những đền đài, trên những lăng tẩm và cả trên những con đường rợp bóng cây. Nơi có dòng sông Hương êm đềm chảy qua. Để mỗi sớm còn lảng bảng sương hay những chiều tà, ta được lắng nghe chuông chùa rung từng hồi vọng trên sông nước. Tiếng chuông gọi người tỉnh thức. Tiếng chuông rửa sạch ưu phiền.
 
Nói đến Huế, ta không thể không nhắc đến những ngôi chùa cổ. Những ngôi chùa gắn liền với lịch sử mảnh đất này. Nó như minh chứng cho sự hưng thịnh một thời của đạo Bụt dưới chế độ quân chủ. Và hiện tại, nó vẫn tiếp tục là những đại tùng lâm cho không biết bao nhiêu người tìm đến tu tập và chuyển hóa. Với Thiên Mụ uy nghiêm soi mình bên dòng Hương dù mưa dù nắng. Và tiếng chuông công phu đã đi vào ca dao tục ngữ:

Tiếng chuông Thiên Mụ
Canh gà Thọ Xương.
 
Với Từ Đàm, điểm dừng chân cuối cùng trong chuyến du hóa từ phương Bắc của Tổ Tử Dung. Để mảnh đất kinh kỳ này có cơ duyên sản sinh thêm một bậc thầy đạo hạnh trong dòng thiền Lâm Tế - Tổ Liễu Quán. Với Thuyền Tôn trầm mặc, ẩn mình dưới rừng tùng xanh mát bốn mùa, nơi bậc thầy đạo hạnh phát dương quang đại tông chỉ của tổ tông.

Và nhắc đến Huế, người ta không quên nhắc đến chùa Từ Hiếu. Nếu nói nó là ngôi chùa cổ thì chưa hẳn đúng lắm. Vì sao? Nó còn quá trẻ so với chùa Thiên Mụ, Tổ đình Quốc Ân hay Báo Quốc… Nhưng Từ Hiếu đi vào lòng người không phải bằng con đường của bề dày lịch sử hay công trình tráng lệ, mà nhẹ nhàng đi vào lòng người bởi trường ca hiếu nghĩa và độ sinh. Nếu một lần đã đến Từ Hiếu, bạn sẽ không quên hương thiền nhè nhẹ tỏa từ mảnh đất nơi đây, quang cảnh nơi đây. Dường như những bận rộn, lo âu, phiền muộn của nhịp sống xô bồ bên ngoài được trút xuống ngay đầu con đường đất đỏ dẫn lối vào nội viện. Nhìn từ xa, Từ Hiếu ẩn mình sau rừng thông xanh trông như cô gái Huế e lệ nép dưới phiến lá, nhưng nó vẫn hùng tráng và uy nghiêm như sư tử vươn mình giữa rừng hoang thời đại. 
 
alt
 
Chiếc thánh thai của mối tình giữa chí nguyện độ sanh và lòng hiếu

Năm Giáp Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45, tại làng Trung Kiên, tổng Bích La, huyện Đăng Xuyên, tỉnh Quảng Trị, ngày nay là làng Trung Kiên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, có một người con được sinh ra, mà về sau đã trở thành pháp khí chốn thiền môn. Ngài có thế danh là Nguyễn Văn Nội.

Năm lên 7 tuổi, ngài từ giã song thân, vào đất Thần Kinh tìm đến ngài Đạo Minh – Phổ Tịnh, trú trì chùa Huệ Lâm – Huế để tu đạo.

Năm lên 20 tuổi, ngài được bổn sư thế độ, ban cho pháp danh Tánh Thiên, pháp tự là Nhất Định và được hội đồng thập sư đặt cách cho thọ tam đàn cụ túc tại chùa Quốc Ân – Huế với ngài Mật Hoằng.

Sau mười năm ròng rã theo thầy học đạo, vào ngày 14 tháng 11 năm Giáp Tuất, tức Gia Long thứ 13, ngài được bổn sư truyền đăng với bài kệ:

                 Nhất định chiếu quang minh
                 Hư không mãn nguyệt viên
                 Tổ tổ truyền phó chúc
                 Đạo Minh kế Tánh Thiên

Việt dịch:

                 Nhất Định chiếu sáng tinh
                 Hư không trăng tròn xinh
                 Tổ tổ trao lời chúc
                 Tánh Thiên từ Đạo Minh
                                     (TT. Thái Hòa dịch)

Vào tháng 11 năm Bính Tý, tức Gia Long thứ 15 (1816), bổn sư của ngài viên tịch. Ngài cư tang thầy và cũng chính năm này, ngài đã được tông môn cung thỉnh trú trì chùa Thiên Thọ, tức chùa Báo Quốc ngày nay.

Với đức độ, ngài không những được tông môn thương kính, mà ngay cả vua quan trong triều cũng kính phục. Do vậy, vào ngày 1 tháng 8 Canh Dần, tức Minh Mạng thứ 11 (1830), vua Minh Mạng đã trao giới đao, độ điệp để hòa thượng có cơ hội duy trì phật pháp và làm nơi nương tựa cho tăng tín đồ.

Năm năm sau, khi được vua tặng giới đao, độ điệp, vào ngày mồng 1 tháng 10 năm Ất Mùi, tức Minh Mạng thứ 16 (1835), hòa thượng được bộ lễ dâng lên một lá thư cung thỉnh ngài giữ chức tăng cang Linh Hựu Quán (nay là nhà thờ Tây Linh).

Năm 1839, vua Minh Mạng cho xây chùa Giác Hoàng trong thành nội. Chùa được xây dựng để kỷ niệm nơi phủ xưa khi vua còn là thái tử. Đặc biệt chùa này chỉ dành riêng cho nội cung. Và cũng trong năm này, ngài Nhất Định được vua Minh Mạng sắc phong làm tăng cang chùa Giác Hoàng.

Những năm trước khi ngài Nhất Định chưa làm tăng cang Linh Hựu Quán và chùa Giác Hoàng, trai đàn chẩn tế hằng năm đều được vua chọn tổ chức tại chùa Thiên Mụ. Nhưng kể từ năm 1835, điểm chẩn tế để cầu nguyện quốc thái dân an được dời về Linh Hựu Quán và chùa Giác Hoàng. Điều ấy cho thấy, ngài được vua quan triều đình kính trọng như thế nào.

An Dưỡng Am

Vua Minh Mạng băng hà (ngày 28 tháng 12 năm Canh Tý), vua Thiệu Trị lên nối ngôi. Lúc bấy giờ, trong triều có hai khuynh hướng: một bên là các thái giám và cung giám trong nội cung thời Minh Mạng, rất quý trọng hòa thượng Nhất Định, và hòa thượng là chỗ dựa tinh thần của họ; một bên là các quan cận thần vua Thiệu Trị. Hai bên vốn không thích nhau. Do vậy, hòa thượng đã trở thành tâm điểm để các quan cận thần của vua Thiệu Trị trút sự ganh tức lên các cung giám và thái giám nội cung thời Minh Mạng. Họ đã tấu sớ lên vua Thiệu Trị đòi cách chức tăng cang của hòa thượng tại Linh Hựu Quán và chùa Giác Hoàng, với lý do hòa thượng quá già không còn kham nổi công việc nữa. Vả lại, khi lên ngôi, vua sẵn đã thiếu thiện cảm với hòa thượng bởi vua nghe theo những lời dè xiểm của các quan cận thần. Do vậy, vua chuẩn tấu ngay về việc cách chức tăng cang của hòa thượng. Cùng lúc ấy, hòa thượng cũng đã dâng sớ xin thôi giữ chức tăng cang tại Linh Hựu Quán và chùa Giác Hoàng. Tất nhiên, vua Thiệu Trị phê chuẩn ngay. Hòa thượng mừng quá, liền viết hai câu thơ:

                 Hạnh phùng tấu đắc nhưng hồi lão
                 Nhất bát cô thân vạn lý du.

Việt dịch:

                 Già rồi may được vua thương
                 Một thân một bát muôn phương du hành.

Thôi chức tăng cang tại Linh Hựu Quán và chùa Giác Hoàng, ngài cũng đồng thôi giữ chức trú trì chùa Báo Quốc. Ngài giao chùa Báo Quốc lại cho sư em của mình là hòa thượng Nhất Niệm – Tánh Chiêu. Rồi cùng hai người đệ tử Hải Thuận – Lương Duyên, Hải Thiệu – Cương Kỷ và một mẹ già tám mươi tuổi đến vùng núi Dương Xuân, xã Thủy Xuân, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, dựng một thảo am nhỏ để tu trì và nuôi mẹ. Việc lần tìm đến nơi chọn dựng thảo am quả là khó, bởi tuổi ngài đã cao, sức khỏe lại yếu, thêm vào đó rừng núi quá um tùm, không có lối mòn để đi.

Ngài dựng thảo am thành hai phần, phía trước thờ phật A Di Đà, phía sau dành làm chỗ nghỉ cho mẹ ngài, ngài và hai người đệ tử. Thảo am được dựng nơi lưng chừng đồi. Lưng am tựa vào sườn đồi tạo thế đứng rất vững chãi. Trước thảo am cách khoảng hai trăm mét, có con suối nhỏ chảy ngày đêm. Nhìn xa xa hơn một chút, thảo am lấy núi Ngự Bình làm bình phong; còn sau lưng có dòng sông Hương làm chỗ tựa. Am này ngài lấy tên là An Dưỡng. Ngài có viết hai câu đối treo trước am:

                Thân đới quán châu nhàn tuế nguyệt
                Thủ trì tích trượng nhạo vân sơn.

Tạm dịch:

                Thân mang chuỗi hạt nhàn năm tháng
                Tay chống gậy thiền dạo núi sông.

Trong Hàm Long Sơn Chí, Thượng Sơn tiên sinh có viết về thảo am An Dưỡng như sau: “Ngài lập am rất nhỏ, nửa phía trước thờ phật A Di Đà; nửa phía sau kê giường nằm.”

Cũng trong Hàm Long Sơn Chí, có đoạn: “Tôi kính mến hòa thượng, thấy hòa thượng bệnh yếu, muốn cúng dường nhưng hòa thượng từ chối và nói rằng: Tôi có hai đệ tử lo việc trồng đậu, trồng rau có đủ dùng hằng ngày rồi, vì vậy không mong gì hơn nữa”.

Đó là cách hành xử của bậc chân tu.

Mặc dù cuộc sống chốn sơn lâm thiếu thốn, nguy hiểm, nhưng với lòng độ tha, với tâm hoằng hóa độ người, ngài thường đăng đàn thuyết pháp cho hàng phật tử khiến tiếng tăm của ngài ngày càng vang xa. Từ quan chức đến thứ dân hay thái giám, nội cung đều mến mộ tài đức của ngài. Họ đã thường tìm đến nơi ngài để tham vấn học đạo. Trong số ấy, có cả vua Thiệu Trị. Ngày trước, vua Thiệu Trị vì một sự hiểu lầm mà đã trách nhầm hòa thượng. Giờ thì vua đã hiểu rõ sự việc. Do đó, thỉnh thoảng, vua đã đích thân đến chốn thâm sơn cùng cốc này để tham vấn phật pháp với hòa thượng.

Người đến tìm học, và tu tập với hòa thượng ngày một đông, mà thảo am quá nhỏ. Họ yêu cầu được chuyển thảo am thành chùa lớn. Ngài không đồng ý, và nói: “Nếu tôi mà thích ở chùa lớn thì tôi đã ở chùa Giác Hoàng, Linh Hựu hay Báo Quốc rồi, cớ gì tôi phải vào tận chốn thâm sơn cùng cốc này để làm gì”. Với lời nói chân thật như vậy đã làm cho các quan thái giám thêm kính phục ngài.

Ngài đã sống đời sống như vậy trong suốt quãng đời còn lại với rừng núi u tịch. Vào ngày mồng 7 tháng 10 năm Đinh Mùi, tức Thiệu Trị năm thứ 7 (1847), giờ Ngọ, hòa thượng đã nhập định thâu thần thị tịch. Sau đó, đệ tử ngài an táng ngài trên nền của thảo am với bảo tháp cao năm tầng. Bia tháp có đề: Giác Hoàng tăng cang Lâm Tế chánh tông húy Tánh Thiên Nhất Định chi tháp. 

Thảo am An Dưỡng là tiền thân của chùa Từ Hiếu sau này. Tuy hiện giờ thảo am không còn, nhưng hình ảnh của nó vẫn đậm nét trong các thế hệ con cháu.

Hiếu nghĩa

Bụt có dạy: “Sinh ra gặp thời không có Bụt, thờ kính cha mẹ chính là thờ Bụt”. Hạnh hiếu là hạnh đầu trong tất cả các hạnh. Và một bậc chân tu luôn biểu hiện trọn vẹn trong tất cả các hạnh lành, trong đó có hạnh hiếu. Hòa thượng Nhất Định là một minh chứng rất sống động không chỉ ở sự độ sinh mà còn cả lòng hiếu thảo.

Tương truyền rằng, sau một thời gian ở cùng ngài, một hôm mẹ ngài đột nhiên nhuốm bệnh nặng, ngài phải đem mẹ đến khám nơi thầy thuốc. Thầy thuốc bảo ngài rằng, mẹ ngài bị suy dinh dưỡng, do đó bà cần được tẩm bổ bằng cá hoặc thịt mới mong thoát khỏi cơn bệnh. Nghe lời thầy thuốc dặn, ngài đến chợ Bến Ngự, tự tay mình mua cá thật to, đi bộ từ chợ về am An Dưỡng.

Vì mục đích giúp mẹ lành bệnh, ngài mặc kệ sự dị nghị của mọi người. Tin ấy đến tai vua Thiệu Trị, vua bực mình. Vua đích thân đến hỏi vị cao tăng này, tại sao đã đi tu rồi mà còn mua cá làm chi?

Khi Thiệu Trị đến am An Dưỡng, cũng là lúc ngài nấu cháo cá vừa xong, và đang dâng cho mẹ ngài dùng. Hình ảnh ấy khiến vua rất xúc động. Vua đã hiểu ra mọi việc. 

Với lòng hiếu thảo, với sự chăm sóc tận tình của ngài đối với mẹ, bệnh của mẹ ngài ngày một thuyên giảm. Tiếng thơm về lòng hiếu thảo của ngài được mọi người biết đến. Và sau lần ấy, vua Thiệu Trị biết mình hiểu nhầm vị cao tăng này, nên đã thường xuyên lui tới tham học phật pháp với hòa thượng.

Đây cũng là cái duyên mà về sau vua Tự Đức đặt tên cho ngôi chùa được xây trên nền thảo am An Dưỡng là Từ Hiếu.




Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 20 Tháng 4 2009 21:22 )  

Lá Thơ Làng Mai số 33

Bia 1

Xin bấm vào đây để đọc LTLM 33