>
Trang chủ Giới thiệu Các tu viện Từ Hiếu và Thời Gian - trang 02

Từ Hiếu và Thời Gian - trang 02

Email In PDF.
Chỉ mục bài viết
Từ Hiếu và Thời Gian
trang 02
Tất cả các trang

Từ Hiếu

Sau khi ngài Nhất Định viên tịch, ngài Cương Kỷ lên kế vị. Trong thời gian này, các thái giám và cung giám đã xin ý kiến ngài Cương Kỷ để biến thảo am thành ngôi chùa lớn. Ngài Cương Kỷ chấp nhận và cùng họ lo liệu việc xây dựng.

Ngôi chùa được hoàn tất vào năm Tự Đức nguyên niên (1848). Đại hồng chung và các tôn tượng cũng được đúc trong năm này. Duy chỉ có tượng đức Bổn Sư Thích Ca được đúc dưới thời ngài Chơn Thiệt.

Mọi việc hoàn tất, tấu lên vua Tự Đức, vua sắc tứ cho tên chùa là Từ Hiếu.

Sở dĩ vua Tự Đức đặt tên chùa là Từ Hiếu vì muốn con cháu nhớ lại công hạnh tu hành của ngài Nhất Định và gương hiếu thảo của ngài. Và cái tên ấy cũng gợi lên được lòng hiếu thảo của chính nhà vua.

Từ và Hiếu là hai chất liệu không thể thiếu trong một con người xuất gia. Đúng vậy, sáng đem niềm vui cho người, chiều giúp người bớt khổ. Đó là kim chỉ nam của người con Phật. Mỗi ngày, ta nguyện tu tập để chuyển hóa khổ đau, chế tác hạnh phúc, an lạc nơi bản thân, rồi giúp đỡ gia đình, dòng họ và những người xung quanh thực tập theo đúng chánh pháp, để họ biết sống vui, sống hạnh phúc. Đó là cách thể hiện lòng hiếu, lòng từ đúng nghĩa nhất.

Trong đời ngài Cương Kỷ, ngài có công biến thảo am thành chùa Từ Hiếu có quy mô vào năm 1848. Và sau đó, ngài tổ chức trùng tu chùa hai lần nữa. Lần thứ nhất vào năm Ất Dậu (1885), nhờ sự trợ giúp của bà Từ Dũ, các cung giám và các thái giám. Lần thứ hai vào năm Giáp Ngọ (1894) vào thời vua Thành Thái năm thứ 5, nhờ thái giám Hồ Xuyên đứng ra quyên góp.

Hai năm sau lần trùng tu thứ hai chùa Từ Hiếu, ngài Cương Kỷ cho dựng Tháp Bồ Đề (1896). Tháp nằm giữa một đồi thông rất đẹp để tàng trữ những kinh tượng bị hư hỏng. Tại Huế, duy Từ Hiếu mới có tháp bảo viện. Do đó những ảnh tượng hoặc kinh sách của những chùa chiền hay của các phật tử bị hư hỏng, họ đều mang về đây để cho thời gian nó tự phân hủy.

 alt alt alt
 
Hòa thượng Cương Kỷ được vua Thành Thái kính trọng như người cha tinh thần của mình. Do đó, mọi việc trùng tu, kiến thiết đều được nhà vua giúp đỡ. Bên cạnh đó các thái giám, cung giám cũng rất hoan hỷ cùng góp sức xây dựng chùa Từ Hiếu.

Các ngài thế hệ sau tiếp tục nối tiếp mạch nguồn tâm linh của ông cha đi trước, làm cho tổ đình ngày càng phát triển và đi xa hơn:

Hòa thượng Thanh Ninh – Tâm Tịnh (1868 -1927) kế vị trú trì chùa Từ Hiếu sau khi hòa thượng Cương Kỷ viên tịch. Ngài là đệ tử của ngài Diệu Giác ở chùa Báo Quốc. Sư phụ ngài nhận thấy ngài Cương Kỷ là cao tăng hiếm có nên đã cho đệ tử của mình, Ngài Thanh Ninh, đến tham học. Hòa thượng trú trì chùa Từ Hiếu được ba năm. Sau đó, ngài xin từ chức rồi vào ấp Thuận Hóa, làng Dương Xuân, dựng thảo am, đặt tên là Thiếu Lâm Trượng Thất (nay là chùa Tây Thiên Di Đà).

Hòa thượng Tâm Tịnh từ chức, lúc này nhằm năm Thành Thái thứ 13 (1902), hòa thượng Thanh Thái - Huệ Minh (1861 -1939) là đệ tử lớn của ngài Cương Kỷ nên được môn đồ suy cử lên trú trì chùa Từ Hiếu. Năm 1931, ngài cho trùng tu toàn bộ chùa Từ Hiếu. Năm 1937, ngài được vua Bảo Đại phong làm tăng cang chùa Diệu Đế. Ngày 17 tháng 12 năm Kỷ Mão (1939), ngài viên tịch.

Hòa thượng Thanh Quý – Chơn Thiệt (1884-1968) lên trú trì chùa Từ Hiếu, sau khi hòa thượng Huệ Minh viên tịch. Hiện lúc ấy, hòa thượng cũng đang là trú trì chùa Diệu Nghiêm. Hòa thượng có tám vị đệ tử xuất gia: Thượng tọa Chí Niệm, Thiền sư Nhất Hạnh, Thượng tọa Chí Mãn, Thượng tọa Chí Viên, Thượng tọa Chí Thắng, Thượng tọa chí Mậu, Ni sư Lưu Phong, Ni sư Lưu Phương. Năm 79 tuổi, ngài cho trùng tu toàn bộ từ chánh điện cho đến nhà bếp. Đặc biệt ngài cho đúc tượng Bổn Sư Thích Ca bằng đồng.

Hòa thượng Chơn Thiệt viên tịch, thượng tọa Chí Niệm (1918-1979) lên đảm trách chức vụ trú trì. Lúc bấy giờ thượng tọa Chí Niệm đã 50 tuổi rồi. Thượng tọa không xây dựng gì thêm mà chỉ duy trì cảnh quan như cũ. Thượng tọa Chí Niệm viên tịch, thầy Nhất Hạnh đang còn lưu vong không về nước được, do đó thượng tọa Chí Mậu phải đứng lên đảm trách công việc điều hành chùa Từ Hiếu. Từ đây quang cảnh xung quanh chùa đã được sửa sang lại rất quang rạng. Vườn trồng tiêu, vườn cây ăn trái… ở chùa Từ Hiếu từng là vườn cây kiểu mẫu ở Huế. Những thập niên từ 60 đến 80, đất nước tràn ngập chiến tranh, do đó Từ Hiếu trong thời kỳ này cũng không xây dựng được gì thêm. Mãi đến những năm gần đây, một số công trình được xây dựng thêm như thiền đường Trăng Rằm, nhà giáo thọ, tăng xá, thất Lắng Nghe, hai trường học, nhà bếp, hồ Sao Hôm, hồ Sao Mai và cổng chùa cũng được xây dựng lại. Và điểm đặc biệt khi thượng tọa đang điều hành chùa Từ Hiếu, vào năm 1994, viện cao đẳng phật học được mở tại đây với sự góp sức của hòa thượng Thiện Hạnh, thượng tọa Thái Hòa cùng các vị tôn túc trong tăng đoàn Thừa Thiên Huế.

Thầy trò

Nếu nhìn lại để tìm những yếu tố trong dòng thời gian đã qua, đã tạo nên những dấu ấn đậm nét trong lòng người về tổ đình Từ Hiếu, chắc chắn phải kể đến đức độ của chư vị tổ sư. Đức độ ấy được thể hiện rất cụ thể, sống động qua các hạnh lành nơi các vị. Tất cả các hạnh lành ấy đều biểu hiện trên nền tảng của tình thầy trò, nghĩa đệ huynh. Tình và nghĩa ấy có thể là một cái gì đó rõ ràng thể hiện thành hình tướng, hoặc chỉ là nguồn năng lượng giao cảm giữa thầy và trò. Cho dù rõ ràng hay vi tế đều sâu sắc, đều khiến người khác xúc động.

Tương truyền rằng, có một lần hòa thượng Cương Kỷ đang ngồi uống trà bên hộp tợ, lúc ấy trời đã lờ mờ tối, thì vua Thành Thái đến viếng thăm ngài.

Hòa thượng hỏi: Ai đến thăm chùa tối vậy?
Hòa thượng nói tiếp: Thành Thái đó à.
Vua đáp: Dạ, chính con đây.
Hòa thượng nói: Con ngồi xuống đi.

Rồi sau đó, hòa thượng sai các chú điệu xuống bếp lấy sắn lên để ngài cùng ăn chung với vua và nói chuyện đạo lý.

Đó chính là tình thầy trò đích thực. Nó vượt lên trên ranh giới của địa vị, của chức quyền.

Trăm sông đổ về biển lớn
 alt


Nói đến Làng Mai, người ta sẽ nghĩ ngay đến luồng sinh khí Phật giáo ứng dụng. Người đã khởi xướng và thổi luồng sinh khí ấy vào mảnh đất Tây phương và phật giáo Việt Nam hiện nay là thầy Nhất Hạnh. Thầy đã và đang dành cuộc đời mình cho sự nghiệp độ sinh. Nhưng mấy ai biết, đã có bao nhiêu biến cố xảy đến trong cuộc đời Thầy? Và những biến cố ấy đã có ảnh hưởng như thế nào đến sự nghiệp ấy?

Thầy sinh năm 1926, tại làng Thành Trung, Thừa Thiên Huế. Thầy có thế danh là Nguyễn Lang. Năm 16 tuổi, thầy từ giã song thân đến chùa Từ Hiếu xin xuất gia với hòa thượng Chơn Thiệt. Với bẩm tính thông minh và hiền từ, sáu tháng sau được hòa thượng Chơn Thiệt thế độ và đặt cho pháp danh là Trừng Quang, tự là Phùng Xuân. Năm tròn 24 tuổi, thầy được bổn sư cho thọ cụ túc giới.

Trong năm này (1950), Thầy cùng với các thầy khác thành lập Phật học đường Nam Việt tại chùa Ấn Quang, Sài Gòn, Chợ Lớn.

Năm 35 tuổi (1961) thầy đến Hoa Kỳ để dạy về tôn giáo tại các trường đại học Colombia và Princeton. Nhưng đến năm 1963, các thầy ở Việt Nam mời Thầy về để cùng chống chiến tranh đang leo thang khi chính phủ Diệm sụp đổ. Thầy về quê hương hướng dẫn một phong trào bất bạo động theo đường hướng của thánh Gandhi.

Năm 38 tuổi thầy cùng với các giáo sư và sinh viên ở Việt Nam thành lập trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội.

Cũng trong năm 1964, thầy thành lập nhà xuất bản Lá Bối, một trong những nhà xuất bản có tiếng tăm thời bấy giờ ở Việt Nam, và thầy cũng làm chủ bút tờ Hải Triều Âm.

Năm 40 tuổi (1966), theo lời khuyên của các thầy tại Việt Nam, thầy rời Việt Nam theo lời mời của hội Fellowship of  Reconcilliation và trường đại học Cornell. Thầy đến Hoa Kỳ để nói lên tiếng nói đau thương của số đông những người dân bị đàn áp ở Việt Nam.

Trước khi rời Việt Nam, từ Sài Gòn, thầy trở về Huế để bái biệt sư phụ, Hòa thượng Chơn Thiệt. Thầy không biết đó là lần cuối cùng được gặp hòa thượng. Nhưng hình như có linh tính báo cho hòa thượng biết nên hòa thượng đã dạy thầy: “Con hãy ở lại thêm một ngày nữa để thầy làm lễ truyền đăng trước khi con đi”. Khuya hôm sau, một lễ truyền đăng được tổ chức trong chánh điện. Hòa thượng đã truyền cho thầy bài kệ:

                          Nhất hướng phùng xuân đắc kiện hành
                          Hành đương vô niệm diệt vô tranh
                          Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể
                          Diệu pháp đông tây khả tự thành.

Năm 43 tuổi (1964), giáo hội phật giáo Việt Nam yêu cầu thầy hướng dẫn phái đoàn hòa bình của Phật giáo bên lề hội nghị Paris. Sau khi bản hòa ước được ký vào năm 1973, thầy bắt đầu cuộc đời lưu vong tại xứ người cho đến năm 2005 mới được phép về nước. Chính biến cố ấy lại là bước chuyển quan trọng trong cuộc đời thầy.

Trong thời gian ấy, thầy thành lập Phương Bối Am. Am này đã đổi thành Làng Hồng vào năm 1982, một trung tâm tu học rất lớn gần vùng Bordeux, Pháp.

Hiện tại, thầy có rất nhiều trung tâm tu học trên thế giới, nhất là ở Pháp và Mỹ. Hàng ngàn người trên thế giới đã đến tu học với thầy. Hàng năm, mặc dù đã lớn tuổi, nhưng thầy vẫn đi mở các khóa tu học cho các giới ở các nước. Hàng vạn trái tim, hàng triệu tâm hồn bị cuộc đời làm tổn thương thì thầy là người hàn gắn cho những trái tim, những tâm hồn ấy lành lặn trở lại.

Về nguồn

Mặc dù sống xa xứ, nhưng thầy vẫn hướng về đất nước với tấm lòng một người con của quê hương. Thầy đã có những chương trình hành động rất cụ thể nhằm hổ trợ cho đất nước. Năm 2005, khi được phép về nước, thầy đã hiến tặng cho đồng bào phật tử những phương pháp thực tập đã được thầy áp dụng ở Tây phương hơn 40 năm qua. Những pháp môn đã và đang giúp chuyển hóa cho hàng triệu người trên thế giới. Chuyến trở về đã để lại một ấn tượng khá mạnh về một đạo Phật ứng dụng. Nó giúp chuyển đổi được những cái nhìn sai lạc của đại đa số người dân về đạo Phật. Nó cũng giúp người dân phục hồi lại niềm tin nơi đạo Phật. Đáp ứng lại lòng mong mỏi của những người trẻ muốn tu học, muốn xuất gia, nhiều tu viện Phật giáo được thực tập theo pháp môn Làng Mai đã hình thành. Điển hình như tu viện Từ Hiếu. Với những ngày đầu tiên thành lập, số lượng tăng chúng, đa phần là những người xuất gia trẻ, đến thường trú tu học tại đây lên đến con số cả trăm. Bên cạnh đó, tu viện cũng tiếp nhận những người trẻ có ước nguyện muốn tìm hiểu đời sống xuất gia. Chương trình tu học dành cho tăng chúng tại tu viện có sự kết hợp hài hòa, uyển chuyển giữa truyền thống và pháp môn mới. Tuy đa phần là người xuất gia trẻ nhưng năng lượng tu học rất vững chãi. Bởi mỗi thành viên của tu viện đều ý thức được rằng mình đang có một hướng đi rõ ràng cho hiện tại và cả tương lai. Hơn nữa, lại được nương tựa tu học nơi những vị thầy khả kính, những vị thầy có nhiều năm kinh nghiệm trong sự tu học và chuyển hóa. Tại tu viện, mỗi tuần đều có ngày quán niệm cho phật tử địa phương. Số phật tử đến tham gia ngày tu rất đông. Họ cảm thấy rất hạnh phúc khi được thực tập chung với quý thầy tại tu viện. Họ có chia sẻ rằng, chỉ cần thấy sự trầm tĩnh nơi quý thầy, sự bình an trên từng bước chân nơi quý thầy cũng đã giúp họ vơi đi phần nào, lắng dịu phần nào những cẳng thẳng trong họ. Bên cạnh những sinh hoạt thường nhật, quý thầy còn tổ chức giao lưu, trao đổi với các bạn sinh viên, học sinh địa phương hoặc ngoại tỉnh về nhiều khía cạnh của cuộc sống, nhưng nền tảng của sự trao đổi vẫn là sự tu học. Qua những lần trao đổi như vậy, năng lượng tu học nơi mỗi thành viên trong tu viện càng thêm nuôi dưỡng. Bởi ai cũng ý thức rằng, mình cần thực tập nhiều hơn để có vốn kinh nghiệm đem ra chia sẻ, giúp đỡ những người trẻ. Và tại tu viện, mỗi năm cũng có những khóa tu 7 ngày, 21 ngày cho Phật tử từ bắc miền Trung trở ra. Hàng năm, lực lượng giáo thọ từ Làng Mai được gởi về Từ Hiếu để cùng thực tập với đại chúng ở đây. Và cũng chính lực lượng này được mời giúp đỡ mở các khóa tu tại một số điểm mà Phật tử có nhu cầu. Bắt đầu từ đây, luồng sinh khí mới đã xuất hiện trong đạo Phật Việt Nam.
 
alt




Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 20 Tháng 4 2009 21:22 )  

Lá Thơ Làng Mai số 33

Bia 1

Xin bấm vào đây để đọc LTLM 33