>
Trang chủ Thư viện

Thư viện

Thư Thầy viết cho Lộc Uyển năm 2000

Email In PDF.


thay_locuyen_01
thay_locuyen_02
Lần cập nhật cuối ( Chủ nhật, 08 Tháng 8 2010 10:31 )
 

Con đã có đường đi

Email In PDF.

Thầy thương kính của con!
Con là Thoát Nghiêm, năm nay con vừa tròn 20 tuổi. Sư cô HL nói: 20 là cái tuổi bắt đầu biết nhìn cuộc đời bằng con mắt đẹp nhất. Con thấy cũng đúng đó thưa Thầy! và đây là cái nhìn về cuộc đời của con. Thầy duyệt cho con Thầy nhé!

Thầy ơi! Thầy có biết gì không? Con đang nghe Thầy trả lời: “biết gì hả con?”
Thầy có biết là con của Thầy hiện đang ngồi tĩnh tọa trước một khu vườn Cam vừa mới lên chồi rất non, những chiếc lá Cam non xanh mơn mởn đang còn thẹn thùng, mắc cỡ chưa dám tung hết mình ra với cái nắng, cái mưa và cái gió của xứ sở này. Bởi giống Cam này được mang về từ VN và bác Hai bắt đầu thử trồng vào đất Cam… này lần đầu. Nhìn qua bên tay trái của con là một vườn dừa xanh mát và cao tít tắp, chúng đứng hiên ngang như những chàng dũng sĩ đang dàn trận chiến. Vai mang rất nhiều “quả lựu đạn” xanh-to-tròn và nặng trĩu. Bên tay phải của con là cả một rừng chuối mật rậm rì um tùm. Và trước mặt con là cả một dòng kênh Sen thơm ngan ngát. Con ngước nhìn lên thì ông mặt trời đã đi trốn đâu mất rồi. Con nghĩ chắc có lẽ là ông đang đi về bên phía Thầy!

Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 26 Tháng 7 2010 22:37 )
 

Thư gửi Quốc Vương xứ sở Bình An

Email In PDF.

Bông hoa nhỏ kính gởi đến Quốc Vương của xứ sở bình an.

Con kính bạch Thầy!
Chắc Thầy sẽ bất ngờ khi thấy tự nhiên con gọi mình là một Bông Hoa Nhỏ và gọi Thầy là Ông vua của vương quốc Bình An. Tại vì sáng nay khi thức dậy, con có mở máy ra và nghe một bài pháp thoại của Thầy năm 2003. Trong đó Thầy nói có một xứ sở mà không ai có thể phá vỡ được dù là ở Iraq hay Việt Nam, chỉ có mình quên mất là mình đang ở xứ sở đó mà thôi. Đó là xứ sở của giây phút hiện tại. Mới nghe tới đấy, dù phải tắt máy để đi ngồi thiền, trong lòng con đã mừng thầm: “A ha! Mình thật hạnh phúc khi mình là người của xứ sở đó”. Ở xứ sở đó có một ông trăng thật là sáng, có một bụi trúc thật đẹp và một ông vua rất thích ăn măng. Mấy hôm  nay, sáng nào ông trăng cũng đến gõ cửa phòng con, gọi con dậy không cho con ngủ nướng nữa. Mỗi khi trở về được với xứ sở của mình con thật là hạnh phúc.

Lần cập nhật cuối ( Thứ ba, 20 Tháng 7 2010 07:01 )
 

Ước Vọng

Email In PDF.

hoa senSư cô C.N là một sư cô gốc Bắc, được sống và tu học trong một tu viện ở miền Trung. Sư cô rất hạnh phúc và ước ao tại quê hương của sư cô ở ngoài Bắc, người dân cũng có được thứ đạo Bụt mà sư cô thấy ở miền Trung và miền Nam. Sư cô mong ước người dân ở ngoài ấy có được một cái nhìn chính xác hơn về đạo Bụt và về những người xuất gia. Dân chúng cứ nghĩ là chỉ khi nào mình thất bại trong cuộc đời thì mình mới chọn con đường xuất gia, xuất gia là chỉ để phục vụ cho sự cúng lễ, và người xuất gia xem cúng lễ là một cái gì để sinh sống. Người ta đã quên là trong lịch sử đất nước ta, ngày xưa đã có một ông vua đang tại vị mà đã nhường ngôi cho con để xuất gia với mục đích là bồi đắp và nâng cao nếp sống đạo đức cho cả một dân tộc, đó là vua Trần Nhân Tông. Và người ta đã quên rằng ngày xưa nhiều thiền sư đã được các vua tôn xưng là quốc sư và đã tham vấn các vị ấy về những vấn đề văn hóa, đạo đức và chính trị trong nước. Đọc những lá thư này của sư cô Chuẩn Nghiêm ta cũng mong ước như sư cô là một ngày kia đạo Bụt đích thực sẽ được trả về cho dân chúng và đóng lại vai trò bồi dưỡng đạo lý và hạnh phúc cho quốc dân.

Lần cập nhật cuối ( Chủ nhật, 11 Tháng 7 2010 23:39 )
 

Niềm tin sắt đá

Email In PDF.

Ngày 28-04-2010

Thầy thương kính của con!

Con đang ngồi nơi góc trời nhỏ cùng với một ngọn bạch lạp để viết thư cho Thầy. Và con không xấu hổ chút nào để nói với Thầy rằng: đây là một giây phút hạnh phúc. Thầy ơi! Chỉ cần nghĩ rằng con còn có Thầy trên cuộc đời để mà viết thư thì cũng đủ sung sướng Thầy ạ!

Nhớ thực tập 100% con nhéTrong đầu con lúc này có nhiều chuyện muốn kể cho Thầy nghe quá! Để con kể về món quà “100%” của Thầy tặng chúng trước nhé. Khi quý thầy quý sư cô ở bên Làng cũng như từ Việt Nam qua thì chúng con có cơ hội được ăn chung với nhau ngay chiều hôm sau. Chiều hôm đó, lúc khất thực xong con và sư chị Đàn Nghiêm đã đi ra gặp sư cô Cần Nghiêm. Chị em con hỏi thăm sư cô tíu tít; vui quá nên chị em con quên mất chuyện thực tập đi không nói chuyện. Sư cô dễ thương lắm Thầy ạ! Trả lời chị em con vài câu, sư cô dừng lại bỏ tay vào túi rồi cười hiền hòa bước đi im lặng. Mặc dù chị em con chưa biết cái sự thực tập 100% ấy, nhưng chị em con hiểu là sư cô đang thực tập một pháp môn nào đó. Điều đó làm con thấy quý và cảm thấy hạnh phúc lắm. Sau khóa tu ở Bangkok, chúng con lại được đi thời khóa chung hai xóm ở ngày quán niệm. Sáng hôm đó, anh chị em con được nhận “bảo bối” của Thầy gửi qua ngay trong giờ pháp thoại. Màn hình to cho nên con nhìn thấy rất rõ. Thời gian đã để lại nhiều nét nhăn trên khuôn mặt của Thầy. Vậy mà sao Thầy tươi mát quá! Đôi mắt của Thầy tinh anh quá, và từng nụ cười như lan khắp từng nét nhăn. Thầy ơi! Thầy đẹp quá! Con cũng muốn đẹp giống Thầy bởi vì con là con của Thầy. Và chắc chắn con sẽ làm được phải không Thầy? Ngồi nghe pháp thoại mà nước mắt con cứ chảy ròng ròng khi nhìn Thầy. Con hơi ốt dột nhưng thật vui. Nhưng vì lúc đó ai cũng chăm chú vào màn ảnh nên không thấy con khóc. Lúc Thầy phát cho mỗi vị một tấm thiệp 100% trên màn hình thì bên này chúng con ai cũng nhận được một tấm từ các thầy các sư cô từ Pháp sang. Ai cũng xá cung kính và vui tươi như nhận bảo vật Thầy ạ! Con nhận nó (một mảnh giấy 100% có dấu đóng mộc của Thầy) mà thấy là mình đã được Thầy trực tiếp trao cho chìa khóa của gia tài—Thầy đã trao Thầy cho con 100%. Con xúc động lắm. Con thấy rằng không có cái gì bền chắc hơn niềm tin của Thầy dành cho anh chị em chúng con. Con nguyện cùng các anh chị em gìn giữ và làm giàu thêm gia tài của Thầy.

Thầy thương kính của con! Trong khoảng thời gian mới qua Thái Lan con đã gặp nhiều rắc rối trong lòng lắm. Và Thầy biết con làm gì trong thời gian đó không? Con đã hướng về Thầy với tất cả tấm lòng cầu khẩn, để đường đi của con dù khắc nghiệt đến đâu cũng vẫn không làm khô đi niềm tin sắt đá. Con thực tập trở về với Thầy bằng cách tự làm cho mình mấy bài “sám hối địa xúc” để lạy mỗi đêm khi nghĩ về Thầy. Để con chép lại một bài Thầy đọc cho vui.  Sự thực tập này nuôi dưỡng con nhiều lắm Thầy à.

Khải bạch:

Nam Mô Đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni

Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo.

Con có Thầy của con là bậc trí tuệ cao vời. Trí tuệ mà con luôn tôn kính và nhờ đó mà luôn luôn được cảm thấy an ủi, vỗ về mỗi khi con gặp trở ngại trên con đường tu học.

Con ước ao được đi theo những dấu chân đẹp đẽ của Thầy đã in sâu nơi lòng đất ở cõi ta bà. Con muốn con tiếp nối được lòng từ bi của Thầy, tiếp nối được những trí tuệ mà Thầy đã mở ra cho anh chị em chúng con đi. Nhưng con biết trong con còn nhiều yếu kém và khổ đau, nên có những lúc vì giận hờn, vì hơn thua và chạy theo những nhu yếu của tập khí mà con đã quên mất mình là người xuất gia, là đệ tử của Thầy. Con thấy xấu hổ lắm! Con biết dù Thầy rất từ bi không bao giờ trách con, nhưng trái tim con tự dằn vặt khi đã sống không đúng nghĩa. Năm nay Thầy đã lớn tuổi--đã 84 tuổi rồi mà vẫn còn nhiều việc để Thầy làm quá. Ngày nào Thầy cũng học, cũng tu, cũng thương yêu và khao khát được khám phá ra những điều mới lạ. Con biết con không bao giờ có quyền quên đi cái ơn sâu tuyệt diệu này. Ở ngoài đời, các học sinh Việt Nam cứ đến ngày 20-11 là lại có cơ hội tỏ bày tấm lòng của mình đối với thầy cô bằng cách tặng quà, chúc tụng… Còn con, con là người tu, đáng lý con không những phải giống họ mà mỗi ngày con phải hơn họ, luôn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình bằng sự thực tập hiểu biết, thương yêu thì mới mong đền đáp được phần nào ân sâu của Thầy. Trong giây phút hướng về Thầy con thấy lòng mình rộng mở và bao dung quá. Con biết dù con chưa giỏi để chấp nhận hết vụng về của con trong đời sống, nhưng mỗi lần nghĩ về Thầy là biểu tượng của thương yêu, ôm ấp và tha thứ lại đi lên trong con. Và chính nguồn năng lượng ấy đã giúp con cho phép bản thân mình chấp nhận và chuyển hóa tự thân hơn.

Con kính xin Thầy truyền năng lượng của kiên nhẫn và niềm tin vào trái tim con, để con có thể tiếp nối được sự nghiệp của Thầy một cách sâu sắc và trọn vẹn.

Địa Xúc:

Con kính xin lạy xuống trước đức Thế Tôn, trước các vị Bụt và Bồ Tát trong mười phương và ba đời.

Con kính xin lạy xuống trước Thầy của con là bậc con thương kính và quý trọng nhất.

Ôi! Con cảm ơn cuộc đời, cảm ơn tất cả mọi điều kiện mầu nhiệm đã cho con được làm con của Thầy. Con thật là may mắn. Chị em con ai cũng mang cái ý thức này Thầy à. Thời gian ở đây chị em con ai cũng trân quý sự có mặt của nhau, vì biết mình chẳng có cơ hội ở gần nhau hoài, nhất là sau khi mọi người có giấy tờ đi đây đi đó.

Thầy thương kính của con! Tự nhiên lúc này con lại càng thấm thía hơn với câu “Tăng thân khắp chốn, quê hương nơi này”, Thầy ơi.

Con còn một chuyện rất quan trọng muốn khai với Thầy, nếu không thì tối nay con ngủ không được đâu. Thầy có biết không? Chị em chúng con rất là sung sướng trong thời gian sư mẹ Đoan Nghiêm ở đây. Sư mẹ đi ai cũng buồn Thầy à. Con cảm ơn Thầy đã sinh cho chúng con một người chị tuyệt vời. Con thấy được sự tiếp nối xứng đáng của Thầy nơi sư mẹ. Được gần gũi và nghe sư mẹ khuyên nhủ chúng con có cảm giác như được ở gần Thầy. Sư mẹ đã giúp chị em chúng con có nhiều bình an và có cái nhìn mới về những khổ đau sau trận bão Bát Nhã, cũng như trong đời sống hàng ngày. Thầy ơi! Ở sư mẹ con tìm thấy một tình thương, một sự cảm thông lớn lắm, đến nỗi chị em con có khi chỉ cần ngồi bên sư mẹ thôi mà không cần nói gì hết mà cũng đủ thấy vô cùng nuôi dưỡng và ấm áp Thầy ạ. Chúng con, các chị em Thức Xoa Ma Na trở lên, được sư mẹ dạy về Duy Biểu Học. Lớp học bao giờ cũng sôi nổi và được trị liệu. Nhờ khả năng đặc biệt nào đó của sư mẹ mà chị em con không ai có thể ngủ gục được. Lớp học rất vui và có những trận cười đắc chí khi nghe những câu thấm thía và “trúng tim đen” của nhiều người. Con có nhiều chuyện vui về sư mẹ lắm, nhưng con tin chắc qua đó sư mẹ sẽ kể cho Thầy nghe. Bởi con biết sư mẹ cũng có nhiều hạnh phúc khi được ở chung với chị em chúng con.

Thầy thương kính của con! Nếu ở bên nớ không có gì trở ngại thì con rất khao khát xin Thầy cho sư mẹ về đây an cư với chúng con Thầy nhé. Sau khóa tu, quý vị lớn đã trở về hết, chỉ còn lại một hai vị. Chúng con ai cũng cần sư mẹ ở đây như một sự vững chãi lớn lao Thầy à. Sắp vào an cư rồi, Thầy giúp chúng con đi Thầy. Con sẽ không đòi hỏi gì thêm ngoài sư mẹ. Và Thầy ơi, không phải một mình con đâu, ai cũng đang chờ sư mẹ quay lại Thầy à. Con nghe sư cô Thuần Tiến nói dạo này sức khỏe của Thầy hơi kém, vậy mà Thầy vẫn cứ đi hướng dẫn các khóa tu liên tục. Thầy ơi! Thầy có biết không? Biết là con thương Thầy lắm không? Câu này con biết dù Thầy đã được nghe cả vạn lần từ không biết bao nhiêu người, nhưng bao giờ nó cũng đẹp và sâu sắc bởi vì điều này là điều không thể thiếu giữa tình cảm Thầy trò phải không Thầy? Thầy ơi! Phổi con đây còn tốt lắm con sẽ thở cho Thầy. Chân con đây còn chắc lắm con sẽ đi cho Thầy. Sức khỏe con đây còn tốt vô cùng con sẽ cống hiến hết lòng cho Tăng thân để tiếp nối sự nghiệp của Thầy.

Con kính xin được dừng bút nghe Thầy.

Thầy thương kính của con! Tăng thân thương kính của con!

Con của Thầy,


Chân Luận Nghiêm

T.B. Ngoài kia trăng đẹp lắm Thầy ơi! Con sẽ ngắm trăng cho Thầy bằng hai vì sao của con. “Tự soi mình trong gương nguyệt, con thấy con và con bổng thấy Thầy …”

 

Thư Sư Ông hồi âm cho sư cô Luận Nghiêm

 

Học Viện Vô Ưu Ngày 16-06-2010

Chân Luận Nghiêm con của Thầy,

Thơ con viết làm thầy nhớ tới vua Trần Thái Tông. Có những đau khổ mới thì có những phương pháp hành trì mới. Hồi đó vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) mới có hai mươi tuổi. Vì khổ đau, vua đã học Phật, đã tu tập và đã tự sáng tác ra sám pháp Lục Thời Khoa Nghi, để mà thực tập. Hồi ấy đã có nhiều sám pháp rồi, nhưng vua vẫn có nhu yếu sáng tác thêm để thực tập cho khế cơ. Con cũng vậy, đã có Sám Pháp Địa Xúc rồi mà chưa đủ, con phải sáng tác thêm để lạy. Điều này làm thầy vui lắm. Con hãy gửi thêm những đoạn sám văn mà con đã viết để thầy đọc.

Thầy biết chắc chắn rằng trong tương lai sẽ có một nơi trên quê hương để các con được đoàn tụ mà tu học như những ngày ở Bát Nhã. Nơi ấy sẽ do chính các con tạo dựng. Thầy không lo lắng gì về chuyện đó tại vì thầy thấy hạt giống Bồ đề thầy trò mình gieo trồng trong những năm qua đã mọc lên và lớn mạnh khắp nơi, ngay trên quê hương mình, và nhất là trong trái tim của các con và của bạn bè.

Chuyện sư mẹ Đoan Nghiêm có qua trở lại với các con không là do hội đồng Giáo Thọ quyết định. Thầy nghĩ nếu sư mẹ Đoan Nghiêm không qua được thì chắc chắn cũng có một sư mẹ khác qua, mầu nhiệm không khác gì sư mẹ Đoan Nghiêm. Con đừng lo.

Thầy gửi lời thăm tất cả các con bên ấy và chúc các con tu học tinh tiến, mỗi ngày chế tác thêm được nhiều niềm tin trong tình huynh đệ.

Thầy của các con,


Nhất Hạnh


   

Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 26 Tháng 6 2010 22:04 )
 

Khát Vọng

Email In PDF.

09. Ngay Noel cho chung xuat si tai Son CocBạch Thầy kính thương!

Lại một mùa xuân nữa đến với mọi người, với muôn loài. Mùa xuân này là mùa xuân thứ hai con được đón xuân cùng Đại Chúng. Bao nhiêu niềm hạnh phúc đến với con, con chẳng biết viết sao cho hết, con chỉ ước ao mọi người, ai ai cũng được hạnh phúc như con. Nhưng Thầy ơi, bao nhiêu ước ao con dành trọn cho quê hương, cho gia đình, dòng họ con hết. Bởi vì quê hương con còn chưa biết gì về người tu. Sau đợt về quê vừa rồi con biết con phải có trách nhiệm với quê hương con hơn nữa.

Sau hơn ba năm xa nhà, xa quê hương, ngày về lại quê con mừng mừng, tủi tủi. Con vẫn chuẩn bị cho mình những tình huống có thể xảy ra nhưng con vẫn bị “sốc” nhẹ. Con về nhà vào lúc hoàng hôn đang buông xuống. Cảnh vật quê hương con vẫn như ngày xưa, chẳng thay đổi là bao nhưng bố mẹ con thì có già đi chút ít. Con vẫn là con của quê hương nhưng con có thay đổi bởi hình tướng bên ngoài. Bản thân con rất hạnh phúc khi được mặc chiếc áo nhật bình để “khoe” với mọi người, nhưng ngược lại mọi người nhìn con với ánh mắt lạ lùng, nhìn con như con là người ngoài trái đất.

Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 09 Tháng 6 2010 21:56 )
 

Trồng một nụ cười - Thư Sư Ông viết cho đệ tử

Email In PDF.

Nụ cười này nở rất tự nhiên, như một đóa hoa, không phải như những nụ cười ngoại giao hay đón khách. Nụ cười ấy không phải tự nhiên mà có được. Phải gieo trồng, phải tưới tẩm nó rồi mới có cái vui gặt hái nó để hiến tặng cho mọi người. Phép thực tập thở ý thức và bước chân thiền hành đã đem lại nụ cười ấy. Ấn bản tiếng Đức của sách Từng Bước Chân An Lạc mang tựa đề là Tôi trồng một nụ cười (Ich pflanze ein Lacheln). Đúng như thế. Nụ cười tới từ hạt giống hỷ lạc có sẵn trong chiều sâu tâm thức ta. Sự thực tập hơi thở và bước chân giúp cho hạt giống ấy nẩy mầm và hiến tặng nụ cười.

Lần cập nhật cuối ( Chủ nhật, 02 Tháng 5 2010 21:02 )
 

Thầy trò mình cùng thực tập - thư Sư Ông viết cho đệ tử

Email In PDF.


Đây là bức thư Sư Ông viết trước khi đi khóa tu tại Italy, để dặn dò các đệ tử của mình khắp nơi trên thế giới. BBT xin được chia sẻ với các bạn thân hữu những lời chia sẻ, dạy dỗ ấy.

Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 03 Tháng 4 2010 22:17 )
 

Lời tựa sách Trái Tim Nghĩa Túc

Email In PDF.

Nghĩa là ý nghĩa. Ý nghĩa ở đây là ý nghĩa của giáo lý Bụt dạy. Túc nghĩa là bàn chân, bước chân hay những câu thi kệ. Tiếng Phạn là Arthapada. Artha (Pali: Attha) là nghĩa. Pada (Pali cũng là Pada) là bàn chân, bước chân, hay câu thi kệ. Ta có thể định nghĩa: Nghĩa Túc là bước chân giáo nghĩa hoặc những câu thi kệ chuyên chở giáo nghĩa.

Kinh Nghĩa Túc hiện có mặt trong tạng kinh Pali và cũng có mặt trong tạng Hán. Năm 1916, một học giả tên A.F. Rudolf Hoernle(1841-1918) khai quật được năm tờ kinh bằng tiếng Phạn của kinh Nghĩa Túc. Nơi mà giáo sư Hoernle khám phá được năm tờ kinh Nghĩa Túc bằng tiếng Phạn ấy là di tích một kiến trúc ở Khadalik bị chôn vùi trong cát của miền Đông Thổ Nhĩ Kỳ (Eastern Turkestan). Các kinh điển lưu truyền dưới dạng thi kệ như kinh Pháp Cú và kinh Nghĩa Túc thường ngắn gọn súc tích, đòi hỏi công phu học hỏi và nghiên cứu. Vì muốn cho các kinh này bớt vẻ khô khan, các nhà dịch giả đã dịch và đưa vào những tài liệu và kinh điển xuất hiện sau đó để dựng nên bối cảnh cho các bài thi kệ. Những câu chuyện tiền thân hoặc những câu chuyện liên hệ tới cuộc đời Bụt đã được sử dụng dưới hình thức văn trường hàng (văn xuôi) để tạo thêm sự thích thú về phía người đọc kinh. Trong cả hai truyền thống Nam Tông và Bắc Tông, chuyện này đều đã xảy ra. Đó là trường hợp của các kinh Pháp Cú Thí Dụ và kinh Nghĩa Túc. Khi nghiên cứu và học hỏi ta phải thấy được sự ráp nối này thì ta mới tiếp thu được nghĩa lý của phần thi kệ mà không bị màu sắc truyền thuyết và tôn giáo của phần trường hàng ảnh hưởng. Có thể bản tiếng Phạn đã được dịch từ bản tiếng Prakrit. Và kinh Nghĩa Túc chữ Hán mà ta hiện có có thể đã được dịch từ bản tiếng Phạn này.

Lần cập nhật cuối ( Chủ nhật, 06 Tháng 6 2010 12:36 )
 

Bây giờ rõ mặt đôi ta - thư Sư Ông viết cho đệ tử

Email In PDF.

Tháng sáu năm 2008, Thầy đã kết thúc chuyến đi viếng thăm và hoằng pháp của Thầy tại quê hương bằng ba tuần lễ sống và thực tập với các con Bát Nhã của Thầy. Trong suốt ba tuần lễ, bắt đầu từ cuối tháng năm dương lịch, Thầy và các con Bát Nhã của Thầy đã được sống chung và thực tập với nhau tại tu viện Bát Nhã. Về nội dung thì đây đích thực là một khóa tu xuất sĩ rất miên mật: sáng nào cũng có ngồi Thiền, hôm nào cũng có pháp thoại, thiền hành, và ăn cơm im lặng trong thiền đường Cánh Đại Bàng. Chiều nào cũng có pháp đàm hay thiền trà. Có khoảng ba mươi vị xuất gia từ Châu Mỹ và Châu Âu có mặt với Thầy, cùng với tăng thân Bát Nhã, chúng ta sinh hoạt như một gia đình tâm linh khoảng 450 người. Mình không gọi nó là một khóa tu nhưng đó là khóa tu miên mật nhất, sâu sắc nhất, và tràn đầy năng lượng tình huynh đệ, tình thầy trò. Có những dấu hiệu cho Thầy biết đây là lần cuối Thầy sống và tu với các con của Thầy ở Bát Nhã, cho nên Thầy đã sống
hết lòng với Bát Nhã và với tăng thân đang ở Bát Nhã. Thầy đã nghĩ rằng có thể chỉ trong một thời gian ngắn nữa thôi thì mình phải rời khỏi Bát Nhã. Nhưng sự thực thì mãi đến mười bốn tháng sau người ta mới trục xuất được mình. Những hôm đi thiền hành tại khuôn viên Bát Nhã, Thầy để ý đến từng tảng đá, từng cây mít, từng bụi sim, và biết rất rõ rằng đây là lần cuối Thầy tiếp xúc với chúng. Thầy mỉm cười với bất cứ cái gì Thầy thấy và Thầy tiếp xúc. Thầy nói: Bây giờ rõ mặt đôi ta.
Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 10 Tháng 3 2010 07:14 )
 

Lời chúc thọ Thầy

Email In PDF.

Kính bạch Thầy, chúng con biết muốn làm cho Thầy hạnh phúc thì không phải dâng cúng những món ngon, vật lạ sang trọng hay những chiếc áo ấm v,v,, mà là mỗi chúng con phải biết quán chiếu để thấy Thầy luôn có mặt trong mỗi chúng con, phải thấy rằng mình là sự tiếp nối của Thầy. Vì vậy muốn thương Thầy thì chúng con phải biết chấp nhận, cảm thông, thương yêu, tha thứ, đùm bọc, che chở, dìu dắt cho nhau trên bước đường tu học và cùng nắm tay nhau để xây dựng một tăng thân có hòa hợp, có thực chất tu học để làm chỗ nương tựa vững chãi cho mọi người. Làm được như thế là chúng con đã xứng đáng là đệ tử của Thầy, làm được như thế là chúng con đã có thể đem lại niềm vui lớn cho Thầy rồi.

Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 20 Tháng 2 2010 10:49 )
 

Lá Thơ Làng Mai số 33 - 14.02.2010

Email In PDF.

Phát hành ngày 14.02.2010

Bia 1

Bìa 1

Lần cập nhật cuối ( Chủ nhật, 21 Tháng 2 2010 19:38 )
 

Đề Nghị của thiền sư Nhất Hạnh về cách thức ăn mừng Một Ngàn Năm Thăng Long

Email In PDF.

 

 

Triệu tập đại hội các truyền thống tôn giáo và nhân bản để thảo luận về một nền đạo đức toàn cầu, đưa ra một văn bản không có tính cách tôn giáo để làm căn bản thực tập của cả nước về một nền đạo đức toàn cầu có công năng lành mạnh hóa và từ bi hóa xã hội và cứu hộ được hành tinh. Mỗi truyền thống đưa ra văn bản thực tập của mình (như đạo Phật đưa ra văn bản Năm Giới Tân Tu) để chia sẻ và đóng góp. Tổ chức các buổi trao đổi học hỏi và đàm luận về phương pháp ứng dụng văn bản trong đời sống gia đình, học đường và sở làm. Tổ chức ôn tụng văn bản hàng tháng tại chùa, giáo đường, nhà văn hóa, thánh thất, thư viện, v.v... và đàm luận về phương pháp ứng dụng văn bản. Các viên chức chính quyền cũng đi ôn tụng văn bản đạo đức học như dân chúng.
Lần cập nhật cuối ( Chủ nhật, 14 Tháng 2 2010 00:23 )
 

Những lợi ích của hạt dưa đỏ

Email In PDF.
Steve hỏi tôi ăn cái thứ hạt dưa ấy thì có ích lợi gì. Tôi nói: có nhiều cái lợi lắm chứ. Ở đây tuy người ta ăn rất nhiều trong các cuộc lễ, lễ giáng sinh, lễ tạ ơn vân vân… nhưng người ta không nói đến tiếng ăn. Còn bên xứ chúng tôi người ta nói thẳng thắn là ăn. Ăn Tết, ăn lễ sinh nhật, ăn cưới, ăn hỏi, ăn khảm tháng, ăn ngũ tuần, ăn lục tuần, ăn thượng thọ, ăn giỗ, vân vân… Mà Tết thì kéo dài những ba ngày; trong ba ngày liền phải ăn luôn miệng.

Trích từ sách
Nẻo Về Của Ý

 

Những dòng chữ này có lẽ sẽ đến tay Nguyên Hưng vào những ngày cuối năm, trong khi ở các chợ Saigon thiên hạ đang tấp nập mua bán. Tôi có thể tưởng tượng được những núi dưa hấu cao ngất, những trái dưa hình thật tròn, da thật xanh và ruột đỏ thắm. Mùa này, ở đây, không sao tìm ra được một trái dưa hấu. Nếu có thì chắc chắn thế nào tôi cũng mua một vài trái rồi gọt thành những cái đèn dưa thật đẹp rồi. Hôm qua tôi có nhận được từ bên nhà gởi qua một gói quà tết, trong đó có mấy miếng trầm, mấy cây đèn bạch lạp, một hộp trà, một ít mức gừng, một ít mức trái tắc, và hạt dưa… Tôi mừng lắm. Tối qua, như một người rất nhàn rỗi, tôi đun nước pha trà, thắp bạch lạp và ngồi cắn hạt dưa một mình. Steve không chịu cắn hạt dưa, nói cho đúng là không biết cắn hạt dưa. Steve cũng không thể ăn mứt gừng; chú ta có nếm một tí và nhăn mặt kêu cay quá. Cậu chỉ uống được trà và nhắm nháp ít trái tắc.

 

Steve hỏi tôi ăn cái thứ hạt dưa ấy thì có ích lợi gì. Tôi nói: có nhiều cái lợi lắm chứ. Ở đây tuy người ta ăn rất nhiều trong các cuộc lễ, lễ giáng sinh, lễ tạ ơn vân vân… nhưng người ta không nói đến tiếng ăn. Còn bên xứ chúng tôi người ta nói thẳng thắn là ăn. Ăn Tết, ăn lễ sinh nhật, ăn cưới, ăn hỏi, ăn khảm tháng, ăn ngũ tuần, ăn lục tuần, ăn thượng thọ, ăn giỗ, vân vân… Mà Tết thì kéo dài những ba ngày; trong ba ngày liền phải ăn luôn miệng. Đi đâu, gặp ai mời, cũng ăn, cũng phải ăn. Mà thức ăn cũng mau no, chỉ có hạt dưa là ăn mãi không no. Như vậy cái lợi thứ nhất là ăn mãi mà không sợ phải no. Cái lợi thứ hai là ăn hoài mà không sợ hại cho sức khỏe. Ăn cái gì nhiều cũng có thể đau bụng, đau gan, trúng thực nhưng mà ăn hột dưa thì không sao; vì tuy cái miệng ăn hoài mà cái dạ dày không bao giờ đầy. Cái lợi thứ ba là đỡ phải nói chuyện nhất là khi ta không biết chuyện gì mà nói. Dù sao thì cái miệng của tôi cũng đang làm việc mà: Tôi ít nói vì cái miệng tôi đang ăn hạt dưa, chứ không phải làtôi không biết nói chuyện. Cái lợi thứ tư là tránh được cái hại đa ngôn đa quá. Hạt dưa dạy người ta ít nói, dạy người ta im lặng để suy nghĩ về những điều mình muốn nói, dạy người ta biết nghe những người khác. Từ đứa trẻ năm tuổi cho đến ông già tám mươi ai cũng có thể dạy cho ta được nhiều điều bằng các câu chuyện của họ - người ta thường là thế. Hạt dưa khiến cho ta chín chắn hơn, và giúp ta tránh được những câu nói vô ích, lầm lỡ, nhất là câu tuyên bố bừa bãi không dựa trên căn bản suy tư và nhận xét nào cả. Trong trường hợp này, biết thì thưa thốt, không biết thì “cắn hạt dưa” mà nghe. Khỏi phải dựa cột. Steve cười ngất khi nghe tôi nói như vậy và bảo rằng tôi có thể viết những ý đó thành bài nói về cái triết học của hạt dưa đỏ.

 

Ở nơi Nguyên Hưng ở, bây giờ đã bớt rét chưa? Bên này cố nhiên là trời còn rét lắm. Còn độ hai tháng nữa mùa đông mới qua. Tôi chắc ở chùa Từ Hiếu, các đồi thông đã bắt đầu xanh mướt rồi. Các đọt thông ở đấy vào mùa Xuân sao mà thẳng mà đẹp đến thế. Tôi biết thế nào Nguyên Hưng cũng để rất nhìêu thì giờ đi giữa những cây thông xanh mướt. Tôi chưa bao giờ nỡ bẻ một cành thông, thế nhưng tôi biết những đồi thông mang nhiều thương tích vào những ngày đầu Xuân khi thiên hạ đi hái lộc. Một cái vườn chùa đẹp đến mấy mà sau bữa hái lộc cũng trở thành xác xơ. Tôi nhớ có một năm nọ, chùa Xá Lợi phải trồng một ít cành thông để cho tín đồ hái lộc, như vậy đỡ hại cho những cây cảnh mà chùa phải săn sóc hết hơi mới có lên được. Tôi không biết cái gì đã xảy ra vào tối giao thừa. Không lý chùa phải yết thị rằng hái lộc thì chỉ được hái những cây thông còn các cây khác thì chừa ra. Nếu thế thì sẽ không ai hiểu tại sao. Mà nếu hiểu tại sao thì người ta sẽ không hái lộc nữa, bởi vì người ta nghĩ những cành thông kia không phải thực sự hút nhựa từ đất Phật, không thật sự mọc lên từ đất Phật. Cái tục hái lộc thì thật đẹp nhưng mà đông người hái lộc quá thì không còn đẹp nữa. Tôi nghĩ đến những buổi cầu nguyện đông đảo những buổi thuyết pháp đông đảo và tôi ao ước chúng ta còn có thể duy trì được những cảnh chùa thật thanh tịnh, những buổi gặp mặt truyền tâm giữa một thầy và một trò. Tôi ưa đi vào một chánh điện thanh tịnh và nhỏ bé, một chính điện dành cho sự đối thoại cá nhân giữa con người và đức Phật. Sự đối thoại ấy mới dễ trở thành một sự đối thoại tâm linh của chính mình. Chùa chiền và giáo đường bây giờ có khuynh hướng xây cất cho sự cầu nguyện tập thể. Đó là nhu yếu. Tôi cũng khát khao sự truyền tâm giữa một thầy một trò trong đó trò biết là tất cả con người của thầy đang hướng về mình, kêu gọi sự thức tỉnh và đáp ứng nơi mình, và thầy cũng biết là trước mặt mình cũng chỉ có một trò với tất cả con người trọn vẹn và đặc thù của nó. Trong đại hội Linh Sơn, khi Phật đưa cành hoa lên thì chỉ có Ca Diếp mỉm cười. Đột nhiên đại hội Linh Sơn biến mất, sự có mặt của mọi người trở nên không có. Chỉ có hai người: Phật và Ca Diếp là những người thật sư có mặt. Đám đông Nguyên Hưng ơi, trong những trường hợp như thế, chỉ là một con số không.


Có một buổi chiều đi bộ từ Nam Giao lên chùa tôi gặp một đoàn thiếu niên thiếu nữ Phật tử đi cắm trại từ các đồi thông Từ Hiếu về. Họ đi rải rác, người đi bộ, kẻ đi xe đạp. Người đầu tôi gặp cầm trên tay một cành thông. Người thứ hai cũng vậy. Rồi người thứ ba cũng vậy. Rồi đến cả đoàn. Tôi thấy xót ruột và đau xót cho những đồi thông. Có lẽ ngày Tết cơ sự cũng xẩy ra tương tợ như thế. Tết nầy Nguyên Hưng nhớ “bảo vệ” giúp các đồi thông nhé.

Giờ mà Nguyên Hưng đón giao thừa bên đó thì bên này là giữa trưa. Nghĩ cũng là một điều hay. Năm ngoái tôi đón giao thừa ở Princeton vào lúc mười hai giờ trưa, cùng với một em bé Việt Nam mời được ở cách đó không xa. Giờ đó, thành phố đó, thời tiết đó mà trong phòng chúng tôi cũng có giao thừa. Thiên hạ bên này vẫn đi làm việc tám giờ một ngày, chẳng ai để ý rằng ở Việt Nam Nguyên Hưng đang đón giao thừa, đang ăn Tết. Tại vì tôi biết tôi còn ở đây cho nên tôi cũng biết Nguyên Hưng còn ở đó, Việt Nam còn ở đó, và đêm Giao thừa vẫn hiện hữu. Tất cả chỉ là vấn đề nhận thức, chủ thể nhận thức không rời đối tượng nhận thức. Tôi nhớ có một bữa trưa tôi vào đọc sách nơi phòng triết học của thư viện Butler. Khi vào, tôi chỉ thấy có hai người đang ngồi tra cứu, hai người đàn ông lớn tuổi. Bữa đó tôi đi tìm đọc một cuốn sách của giáo sư Sneider. Đọc được một lúc, không biết rõ là bao lâu, bỗng dưng tôi thoáng thấy mùi hoa bưởi. Ban đầu tôi ngạc nhiên hết sức vì tôi nghĩ rằng ở địa phương này làm gì có hoa bưởi. Nguyên Hưng nên nhớ rằng tôi xa nhà đã lâu và bất cứ hình sắc âm thanh hương vị nào của quê hương đối với tôi cũng vô cùng quý giá, cứ tưởng tượng ngòi tại một xứ xa thật xa, mấy năm trời tự dưng được nghe thấy mùi hoa bưởi kỳ diệu ấy:


Bông lài, bông lý, bông ngâu,
Chẳng bằng bông bưởi thơm lâu, dịu dàng.

Mùi hoa bưởi, mùa hoa của quê hương của ca dao, tôi không đọc Sneider được nữa. Tôi suy nghĩ, và tôi kết luận rằng mùi đó không có thực, không phải là từ tánh cảnh, đới chất cảnh mà từ độc ảnh cảnh tới, nghĩa là ảnh tượng khứu giác được phát hiện trở lại từ tiềm thức. Như thế thì đã có một vài lần tôi trải qua trường hợp ấy rồi. Tôi yên trí, tiếp tục đọc Sneider. Nhưng chỉ một lát sau, mùi hoa bưởi trở lại, hiện thực hơn nhiều, khiến tôi ngừng đọc, ngồi xét lại. Tôi nghĩ rằng có người nào mới vào phòng đọc sách, trong số đó có thể có một cô nữ sinh có sức nước hoa mùi hoa bưởi. Kỳ thực tôi không biết có thể có thứ nước hoa chế tạo bằng hoa bưởi không. Nhưng tôi cứ cho là có. Và tôi nghĩ, trong lúc đầu vẫn cứ nhìn vào trang sách như từ khi mới ngồi xuống đọc, rằng người phụ nữ trang điểm bằng thứ nước hoa kia phải là một người thanh nhã, có dáng dấp Việt Nam, ít nhất là dáng dấp đông phương. Có một cái gì thúc đẩy tôi nhìn lên coi ai mang theo mùi hoa bưởi thân yêu đó. Nhưng mà tôi vẫn không ngửng đầu lên. Tôi tinh nghịch nhủ rằng nếu ngửng đầu lên và tìm thấy một người không giống gì hết với sự tưởng tượng, nghĩa là một người không trang nhã, không có tính cách đông phương, một người béo tốt đẫy đà phấn son trát đầy đầu đầy cổ thì tôi sẽ bị nếm một thứ thất vọng nào đó. Như vậy mà tôi ngồi cho tới năm phút, không ngững đầu lên mà cũng không đọc Sneider. Rồi kết cuộc thì ra làm sao, tôi biết, Nguyên Hưng sẽ hỏi. Nhưng mà tôi không nói đâu, Nguyên Hưng tự đoán lấy. Ai dại gì mà nói điều ấy cho Nguyên Hưng nghe. Tôi mắc cở lắm. Chỉ khi nào Nguyên Hưng giỏi thật giỏi không cần biết tới các kết thúc của câu chuyện thì tôi mới nói cho Nguyên Hưng nghe mà thôi.

 

Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 12 Tháng 2 2010 22:18 )
 

Sách mới - Thiền Tập Cho Người Bận Rộn

Email In PDF.


Bạn có rất nhiều việc cần làm và bạn rất thích làm những việc ấy. Làm việc đem lại cho bạn nhiều hứng thú và niềm vui, nhưng làm việc nhiều quá, lo toan nhiều quá thì rất mệt. Bạn muốn thực tập thiền quán để được thảnh thơi hơn, để có thêm sự an lạc và niềm vui sống hàng ngày. Thế nhưng bạn không có thì giờ mỗi ngày để dành cho thiền tập. Vậy phải làm sao đây? Cuốn sách này sẽ đem đến giải pháp cho bạn.


Thientapchonguoibanron_biagioithieu_final

BBT xin giới thiệu đến bạn đọc quyển sách "Thiền Tập Cho Người Bận Rộn" của Sư Ông, và đã được nhà xuất bản Thanh Niên phát hành ngày 22.01.2010. Nếu các bạn muốn có quyển sách này trong tay để đọc hoặc để tặng bạn bè, xin liên hệ phuongnambook.com để có thể biết thêm chi tiết.

Các bạn cũng có thể đọc trên trang nhà langmai.org. Chúc bạn có nhiều niềm vui và thành công trong sự thực tập



Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 06 Tháng 2 2010 14:29 )
 
JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL